Vấn nạn Tuần Triệt dưới con mắt của chuyên gia

Theo tôi Tuần và triệt là hai con Xúc Xắc chơi trò sấp ngửa – đỏ đen với số mệnh của con người, Mệnh có chính tinh sáng sủa gia thêm tuần triệt thế là hỏng ! Mệnh chính tinh hảm địa , vô chính diệu đóng thêm tuần triệt thế lại hay ! Rồi vận hạn cũng như thế !

Vậy cơ chế của tuần và triệt là gì ?Tôi đã có lần viết về chủ đề Tuần và Triệt nếu các bạn đã theo dõi chắc cũng có một vài ý niệm về” Hai con xúc xắc ” này. Nhưng Tuần và triệt không đơn giản như một vài sự định nghĩa nôm na trên một số sách ! Và tôi càng ngạc nhiên hơn khi thấy có những môn phái tử vi không quan trọng về Tuần Triệt !
Hiện nay có nhiều môn phái ứng dụng Tuần triệt theo những góc độ khác nhau, nổi bật lên đó là hai trường phái : Tuần Triệt cố định và Lưu Tuần Triệt. Tôi dám chắc rằng những người đang sử dụng các phương pháp này vẫn đang lúng túng trong quá trình ứng dụng vì trong thực tế thấy có khi đúng thật đúng, có khi lại sai . Vậy nguyên nhân vì sao ?
Do vậy một lần nữa tôi đề nghị chúng ta hãy nắm thật rõ cơ chế của Tuần và Triệt trước khi giải đoán lá số .
Chắc có nhiều bạn thắc mắc tại sao Tôi phải trình bày lý thuyết xong mới giải đoán số , sở dĩ như vậy là vì tôi nhận thấy rằng môn tử vi tồn tại trong một hoàn cảnh thiếu khoa học !!! Thật vậy, tôi đọc các sách từ trước đến giờ, chằng có sách nào trình bày cho ra trò về lý thuyết tử vi, giỏi lắm thì một vài quyển sách cố gắng giải thích nguồn gốc một số sao theo kiểu ” lấy thịt lợn nuôi lợn “, gần đây có quyển ” Tử vi hoàn toàn khoa học ” của Đằng Sơn, mượn lý thuyết của ông Tạ Phồn Trị để giải thích mà cũng chẳng tới đâu ! Người mới học tử vi mà đọc quyển này thì “ngơ ngác như con nai vàng đạp trên lá vàng khô” ! Những lý thuyết được trình bày trong quyển sách này chỉ là sự gượng ép vào những hiện tượng, chỉ thể hiện những bước cuối của một chuỗi vấn đề mà thiếu hẳn sự suy nguyên ngọn nguồn một cách nghiêm túc. Đã vậy còn luôn mồm kêu gọi mọi người biết ơn cái ông Tạ Phồn Trị xa lạ nào đó !!!
Thử hỏi dựa trên một mớ lý thuyết chưa được chứng minh rõ ràng thế kia thì việc ta đoán đúng một lá số sẽ có mấy phần lý thuyết đúng? Có mấy phần ngộ nhận? Trước đây tôi đoán số cho người ta, nhiều trường hợp thấy rất đúng thì tôi cũng chẳng mừng, có nhiều khi đoán sai thì tôi cũng chẳng buồn, đó là vì tôi thấy môn Tử vi còn thiếu một hệ thống phương pháp luận chuẩn xác nên những cái đúng sai lẫn lộn kia chỉ là những hệ quả tất nhiên! Đã vậy có những người đưa lá số của mình ra như là một câu đố để rồi đánh giá vị thầy nào hay, vị nào dở ! Nhưng họ có biết đâu, chính sự thành tâm hợp tác với người đoán số mới là cách làm hay nhất để hiểu biết về số mạng của mình.
Do vậy, trong thời gian gần đây tôi cố gắng nghiên cứu và hệ thống lại lý thuyết môn tử vi. Trên diễn đàn này,Tôi muốn trình bày cho các bạn một hệ thống lý thuyết về môn tử vi mà tôi đã nghiên cứu được, những phần lý thuyết này cũng được trích từ bản thảo của quyển sách mà tôi sẽ xuất bản. Tôi mong rằng khi các bạn hiểu rõ lý thuyết và phương pháp luận tử vi một cách chính xác thì chính các bạn sẽ tự chấm lá số của chính mình, chỉ có các bạn mới tự khám phá ra chính bản thân các bạn, không ai khác có thể làm điều đó cho các bạn! Qua đó môn tử vi mới được các bạn trân trọng đúng mức và có một chổ đứng vững chắc trong xã hội như những ngành khoa học khác. Đó là điều mà những người yêu thích môn tử vi như chúng ta cần phải làm !
Theo chuyên gia tử vi Long Quang Nguyễn, diễn đàn Vietlyso.vn

Đào hoa sát là gì ? cách hóa giải

Phạm đào hoa sát thì sao
Phương pháp “Đào hoa vị” rất dễ trở thành “Đào hoa sát” nếu không đúng vị trí và mục đích. Câu chuyện xưa là một ví dụ điển hình:

 

Hiếu và Đức là hai người bạn đồng môn giỏi, đứng đầu tỉnh. Kỳ thi năm đó, triều đình mở khoa thi lấy trạng Nguyên.
Hai chàng trai trẻ đã đến kinh đô, chọn một khu nhà trọ để ôn luyện kinh sử, chờ ngày vào trường thi.
Hiếu chọn cho mình một ngôi nhà nhỏ giản dị, có dãy cây cau giống quê nhà. Đức thì phấn khởi thuê một căn nhà đẹp bên một hồ nước làm nơi nghỉ chân. Cả hai tranh thủ sớm khuya ôn lại bài học.
Cách đó không xa là một dinh thự của một viên quan thượng thư, có một cô gái tuổi trăng tròn nhưng tính nết lẳng lơ. Thấy có hai chàng trai điển trai gần nhà, cô tìm cách ve vãn. Mỗi ngày cô lén tặng Hiếu những bó hoa hồng đang khoe sắc. Vốn chỉ để tâm đến nghiệp đèn sách, Hiếu thờ ơ, quẳng những bó hoa kia xuống hồ nước bên nhà. Nhìn bạn được cô tiểu thư kia quan tâm, Đức không khỏi chạnh lòng. Anh tiếc thương, vớt những cánh hoa dưới nước mang về phòng trọ cắm. Hành động này của Đức khiến cho cô gái thay đổi mục tiêu.
Một hôm, cô nhờ người đầy tớ mang đến cho Đức một bình cắm hoa cổ. Đức bâng khuân, tẩn ngẩn, nghĩ ngợi rồi đặt chiếc bình lên bàn học. Suốt ngày hôm đó, anh không thể nào tập trung học hành được. Quả nhiên cơ hội đã đến. Đêm đó, cô tiểu thư xuất hiện và cả hai đã lao đầu vào những cuộc ái ân không dứt.
Kỳ thi hôm đó, Đức đau đớn khi bảng vàng đề tên Hiếu. Quá đau đớn, anh đã ốm nặng và qua đời. Cái chết của Đức khiến cho thầy của hai người rất đau buồn. Sau này ông được một nhà phong thủy giải nghĩa ngọn ngành như sau:
Đức học giỏi hơn Hiếu nhưng khi lên kinh thành, cậu ta bị nạn Đào hoa sát. Hiếu có tâm trong sáng hơn, dù học kém một bậc nhưng lại thoát khỏi nạn ái tình nên số phận thành danh hơn.
Nhiều người thích sưu tập bình hoa cổ để trưng trong nhà, vừa là để thỏa mãn sở thích, vừa để làm đẹp cho nhà cửa. Cũng có nhiều người có thói quen tặng bình hoa cho người thân, bạn bè nhân dịp mừng tân gia hoặc đám cưới với ý nghĩa đầy tốt đẹp là mong cho mọi người được “bình an” (Bình an trong chữ “Bình” – Cách chơi chữ cổ mang hàm ý tốt đẹp của người châu Á).
Số đào hoa và những bí mật phong thủy nhà ở - 1
Nhưng ít ai biết được bình hoa đã ảnh hưởng đến phong thủy như thế nào trong cuộc sống của chúng ta, nhất là việc gây cho chủ nhà ngoại tình trong hôn nhân. Tình huống này được các chuyên gia Phong Thủy cho rằng đã phạm vào “Đào hoa sát”.
“Đào hoa sát” là khi chủ nhà vô ý đặt bình hoa rỗng (không có nước) vào đúng huyệt đào hoa, hay còn gọi là “Đào hoa vị”. Điều này khiến cho người trong nhà tăng thêm vận đào hoa và sẽ xảy ra ngoại tình trong hôn nhân.

Nhiều người tin rằng nếu phong thủy phạm “Đào hoa sát” sẽ có thể dẫn tới sự ngoại tình của vợ hoặc chồng (ảnh minh họa)

Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, xin giới thiệu với bạn đọc những kiến thức Phong Thủy về “Đào hoa vị” trong nhà và cách hóa giải nếu có lỡ phạm “Đào hoa sát”.
“Đào hoa vị” là gì? Cách tìm vị trí “Đào hoa vị” trong nhà
Theo các chuyên gia Phong Thủy, “Đào hoa vị” trong nhà là huyệt đạo nếu được tác động sẽ có tác dụng làm tăng vận khí đào hoa của người sống trong ngôi nhà đó.

Các xác định “Đào hoa vị” cũng không khó. Bạn hãy cầm trên tay chiếc la bàn và đứng ở vị trí chính giữa ngôi nhà, chiểu theo cách xác định dưới đây, bạn sẽ biết Đào hoa vị của nhà mình nằm tại đâu.
* Nhà hướng Nam, thuộc Hỏa: thì Đào hoa vị nằm ở hướng Tây (hướng Dậu).
* Nhà hướng Tây, Tây Bắc, thuộc Kim: thì Đào hoa vị nằm ở hướng Bắc (hướng Tý).
* Nhà hướng Bắc, thuộc Thủy: thì Đào vị nằm ở hướng Đông (hướng Mão).
* Nhà hướng Đông, Đông Nam, thuộc Mộc: thì Đào hoa vị nằm ở hướng Nam (hướng Ngọ).
* Nhà hướng Tây Nam, Đông Bắc, thuộc Thổ: thì Đào hoa vị nằm ở hướng Tây (hướng Dậu).

Với người còn đang cô đơn, chưa kết hôn

Những cô nàng đang ế nên tìm hiểu về phong thủy của sự đào hoa (ảnh minh họa)
Người chưa kết hôn hoặc muộn kết hôn, mà muốn gặp “Đào hoa vận”, thì ngoài 4 hướng chính như trên, cần phải kết hợp năm sinh của một người mới có thể định ra “Đào hoa vị” của người đó.
* Tuổi: Hợi, Mẹo, Mùi: Hướng Tý (Bắc) là Đào hoa vị.
* Tuổi: Tỵ, Dậu, Sửu: Hướng Ngọ (Nam) là Đào hoa vị.
* Tuổi: Dần, Ngọ, Tuất: Hướng Mẹo (Đông) là Đào hoa vị.
* Tuổi: Thân, Tý, Thìn: Hướng Dậu (Tây) là Đào hoa vị.
Khi xác định được đào hoa vị của người đó, cần phải đặt tại vị trí này một số vật khí phong thủy để kích thích vận đào hoa, giúp tìm được người bạn đời lý tưởng. Ví dụ như: tranh mẫu đơn, tranh uyên ương…
Phạm “Đào hoa sát” nghĩa là gì?
Số đào hoa và những bí mật phong thủy nhà ở - 5
Chồng bạn dễ sa ngã vào lòng các cô gái trẻ trung xinh đẹp (ảnh minh họa)
“Đào hoa sát” nghĩa là khi người sống trong nhà vô tình không biết mình đã đặt những vật cấm kỵ tại hướng “Đào hoa vị” của mình hoặc chồng/vợ mình. Đó là:
* Bình hoa rỗng
* Bể cá không có nước.
Khi phạm phải “Đào hoa sát”, người sống trong nhà rất có thể phạm phải ngoại tình, gây đổ vỡ trong hôn nhân.
Cách kích thích Đào hoa vận và tránh phạm phải Đào hoa sát
a – Tránh phạm vào Đào hoa sát
Để tránh phạm phải “Đào hoa sát”, thì sau khi biết Đào hoa vị trong nhà tốt nhất bạn nên:
* Đặt bể không có cá, nhưng đầy nước lên Đào hoa vị.
* Đặt bình hoa có nước, trong đó chưng hoa tươi, hoặc cây thủy sinh, lên Đào hoa vị.
b – Hình dáng
Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là, những loại bình hoa/bể cá nào có thể kích thích Đào hoa vận? Các chuyên gia Phong Thủy cho rằng, tốt nhất bạn nên chọn bình hoa hình tròn. Bởi vì hình tròn tượng trưng cho sự viên mãn, đầy đủ.
Ngoài đặt bình hoa ra, có thể đặt một số con vật tượng trưng cho điềm lành như chim bồ câu, hoặc bức tượng ông tiên tại vị trí này.

Nên bày bình hoa dạng tròn…
Số đào hoa và những bí mật phong thủy nhà ở - 7
… hoặc bể thủy sinh vào “Đào hoa vị”
c – Màu sắc
Đa số bình hoa đều có hoa văn màu sắc sặc sỡ, như vậy trong trường hợp này chỉ cần tìm những màu chủ đạo của bình hoa. Bình hoa có màu sắc nhã nhặn thì càng đơn giản. Hoặc bạn cũng có thể tuân theo những quy tắc sau:
* Đào hoa vị ở hướng Đông: Đặt bình hoa màu xanh lục.
* Đào hoa vị ở hướng Nam: Đặt bình hoa màu Đỏ, Tím, Cam.
* Đào hoa vị ở hướng Tây: Đặt bình hoa màu Vàng kim (Vàng óng), màu Trắng.
* Đào hoa vị ở hướng Bắc: Đặt bình hoa màu Đen, Xám.
Sau đó cắm hoa tươi vào bình, và bạn sẽ thấy mình sẽ gặp vận đào hoa trong một thời gian không xa.
(Theo Vzone)

Mệnh thân mà có Tuần triệt thì phải luận như thế nào ?

Nếu cả Tuần và Triệt cùng đóng ở cung Mệnh hay cung Thân thì thế nào? Điều này cũng có hai ý kiến khác nhau.

 

Mệnh Thân đều dính Tuần Triệt theo quan điểm của một số chuyên gia, thì sẽ ảnh hưởng nặng nề, một số người khác lại cho rằng sẽ tự triệt tiêu. Cụ thể là:


1. Một số cho rằng khi TT gặp nhau thì sẽ tự hoá giải cho nhau và hai cung đó xem như không có mặt của TT nữa. Điều này xét ra không hợp lý lắm bởi vì khoa Tử vi không có những sao nào cùng nhóm lại triệt tiêu nhau. Những sao cùng nhóm luôn hỗ trợ cho nhau, tốt thì tốt thêm, xấu thì xấu hơn. Chẳng hạn như Nhật Nguyệt gặp Xương Khúc, hay hủy hại nặng nề khi Không Kiếp gặp thêm Hỏa Linh. Chỉ có những sao khác nhóm mới khắc chế nhau như Thiên Hình khắc chế và làm giảm đi sự lẳng lơ của Đào Hoa.
2. Mệnh có cả TT như một nhà tù có hai ông cai ngục. Ông chính là Triệt, ông phụ là Tuần. Hết khoảng thời gian của tiền vận khi Triệt về hưu thì cũng còn ông Tuần cai quản, chứ không hề nhà giam được bỏ ngỏ.
Sau hết, trường hợp chúng ta muốn nói ở đây là những lá số có Tuần đóng ở Mệnh và Triệt đóng ở Thân mà chúng ta thường nghe là mẫu người Mệnh Tuần Thân Triệt, hay trường hợp Mệnh Triệt Thân Tuần, thì cuộc dời của hai mẫu người này như thế nào?
Để có câu trả lời, cách tốt nhất là chúng ta để lên bàn cân từng phần một rồi cộng trừ các số thành với nhau để có đáp số cuối cùng. Mệnh có Tuần đóng, nếu Mệnh tốt thì mức độ chiết giảm do Tuần gây ra tương đối nhẹ nhàng, còn nếu cung Mệnh xấu, thì sự cứu vãn của Tuần cũng không được bao nhiêu. Những hung sát tinh cũng như những đúa con phá gia chi tử trong một gia đình bất hạnh. Họa chăng chỉ có người cha là triệt còn đủ uy lực để chế ngự, chứ còn mẹ Tuần thì không đủ sức.
Qua trung vận và hậu vận thì ứng vào cung Thân. Nếu cung Thân tốt mà có Triệt đóng thì cũng không gây ảnh hưởng gì đáng kể, có chăng chỉ là những trở ngại gây rắc rối lúc ban đầu mà thôi. Trường hợp nếu cung Thân xấu thì Triệt ở đây cũng như người nộm dùng để dọa chim chứ không có năng lực gì đáng kể. Như vậy, nếu người Mệnh Tuần Thân Triệt mà có cung Thân tốt đẹp thì về già cuộc đời cũng đạt được nhiều mãn nguyện.
Trường hợp đối với những người Mệnh Triệt Thân Tuần thì cũng tương tự. Mức độ tốt xấu của cung Mệnh sẽ bị chiết giảm nhiều hơn, và sự ảnh hưởng này chỉ xảy ra trong khoảng tiền vận mà thôi. Rồi từ đó cho đến hết cuộc đời, ảnh hưởng của sự tốt xấu trên cung Thân chỉ ở mức độ ôn hoà. Như vậy đối với mẫu người Mệnh Triệt Thân Tuần thì thời gian thử thách nhất là thời thanh xuân, sau đó, nếu cung Thân tốt đẹp thì cuộc đời tương đối cũng được bình ổn.
Tuy nhiên, người Mệnh Tuần Thân Triệt, hay Mệnh Triệt Thân Tuần cũng có những trường hợp đặc biệt như, nếu cung Mệnh hay cung Thân VCD mà có Tuần hay Triệt đóng thì tốt hơn là không có TT. Hoặc là cung Mệnh vừa có cả Tuần lẫn Triệt vừa thêm hai sao Thiên Không và Địa Không, tùy theo có bao nhiêu sao KHÔNG, chúng ta gọi là cách Mệnh VCD đắc nhị không, tam không hay tứ không, đều là những cách hoạch phát. Hoặc là nếu TT đóng tại Mệnh hay Thân mà hai cung này VCD lại được Nhật Nguyệt hợp chiếu thì cũng rất tốt đẹp.
Trên là quan điểm của một số học giả nổi tiếng về tử vi, Vũ Phá nghiêng về quan điểm thứ hai hơn, vì dù gì đi chăng nữa, Tuần và Triệt không phải là sao nên không thể tự triệt tiêu nhau được. Nhưng khi xem một lá số của một người có cả thân và mệnh đều dính Tuần Triệt thì cần rất cân nhắc, không được đoán bừa, nhất là trong tình huống Tuần Triệt vuốt đuôi.

[Lá số tử vi ] Luận cách cục sao ngoại tình

Điều kiện về tính chất:
– lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá …

– phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.
– ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.

 

Điều kiện về tính chất:
– lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá …
– phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.
– ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.

+ Điều kiện về sao:
– nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) …
– phải có sao đa phu, đa thê
– phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang
– phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:
– sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.
– sao tình dục phải có ở cung Phu Thê
– sao tình dục phải có ở cung Nô, Di
– nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó
– cung Tử có những sao hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ

+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
– lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không
– nếp sống đương số có sa đọa hay không;
– cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.

+ Những dè dặt cần thiết:
– sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;
– lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;
– gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;
– gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.

g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:
– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung;
– cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm;
– cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;
– cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ;
– cung Tử có những sao chỉ con dị bào;
– lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau;
– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);
– cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;
– có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di;
– thiếu sao giải mạnh và nhiều

Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:

– Những bộ sao của Tử Vi:
Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:
Tử Sát: nếu hôn nhân bị trắc trở buổi đầu hoặc nếu muộn lập gia đình thì có thể tránh được chia ly. Tuổi muộn thông thường là quá ba mươi. Thất Sát vừa chỉ sự không may, vừa chỉ sự chậm chễ.
Tử Phá: Phá Quân chỉ sự hao tán phu thê cho nên dù đi với Tử Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ chồng phải bị chia ly, hình khắc sau khi hiềm khích, giận hờn, gây gổ nhau.

– Những bộ sao của Liêm Trinh:
Liêm ở Dần, Thân: vợ hay chồng phải chắp nối nhiều lần, có họp rồi lại tan, chưa kể việc lấy chồng/vợ nghèo.
Liêm Tướng: hai người không từ biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ nhau thường xuyên.
Liêm Tham: cũng chia ly, thông thường có một người bị hình tù.
Liêm Sát: vừa chậm gia đình vừa chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Đồng:
Đồng ở Thìn, Tuất: thông thường là bất hòa, nếu không hoặc tử biệt hoặc chia ly.
Đồng, Âm ở Ngọ: nếu muộn gia đạo có thể tránh chia ly. Thường người vợ có lỗi vì Âm hãm ở Ngọ.
Đồng Cự: Vợ chồng hay gây gổ nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự chỉ ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã, thị phi.

– Những bộ sao của Vũ Khúc:
Vũ Sát: sự khắc kỵ gia đạo hết sức nặng nề, mang lại tai họa cho vợ chồng lúc sống chung, một sống một chết, nếu không cũng chia ly.
Vũ Phá: chia ly xảy ra nếu sớm lập gia đình. Vì có Phá Quân, nên có thể hai lần tác hợp.

– Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
Dương hãm địa hay Âm hãm địa: nếu muộn gia đình thì tránh được chia ly, duy vợ chồng hay bất hòa và trước khi lấy nhau thường gặp trắc trở.
Cự Dương ở Thân: ý nghĩa như trên.
Âm Dương đồng cung: nếu muộn gia đình thì có thể tránh được cảnh chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Cơ:
Cơ Cự: chia ly nếu sớm gia đạo. Sự hiện diện của Cự Môn thường bất lợi cho gia đạo, thường báo hiệu việc bất hòa, gây gổ, hai vợ, hai chồng.
Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong việc cưới xin và nếu sớm lập gia đình dễ chia ly.

– Những bộ sao của Tham Lang:
Tham ở Thìn, Tuất: sớm lập gia đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay ghen tuông, chồng thì chơi bời.
Tham ở Dần, Thân: vợ chồng dâm đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp nhau cũng dễ chia ly.

– Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.

– Những bộ sao của Thiên Tướng:
Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: sớm lập gia đình thì sẽ bất hòa và dễ chia ly. Đời sống vợ chồng rất cần sự nhịn nhục, vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và lấn át.
Tướng ở Mão, Dậu: ý nghĩa tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp cản trở.

– Những bộ sao của Thất Sát:
Sát ở Thìn Tuất: phải vài lần lập gia đình, khó tránh được chia ly.
Sát ở Tý Ngọ: nếu sớm gia đạo, dễ chia ly. Vợ chồng là con trưởng, cả hai rất ghen tuông.

– Những bộ sao của Phá Quân:
Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm thành gia đạo thì chẳng những phải chia ly mà còn phải nhiều lần lập gia đình.
Phá ở Dần, Thân: ý nghĩa càng nặng hơn; vợ chồng chắc chắn phải chia ly vì nguyên nhân ngoại tình.
Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ: vợ chồng tối thiểu cũng có lúc xa nhau rất lâu.

– Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.

– Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.

– Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.

– Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có “mạ lỵ thậm từ” và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.

– Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ …

h. Trường hợp tử biệt:
– cung Phu Thê có Tuần, Triệt riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ, hội với sát tinh, có thể hội thêm với hình tinh, hao bại tinh, ám tinh;
– cung Mệnh đương số có Cô, Quả, Đẩu Quân, Tang, Hổ;
– số của hai vợ chồng đối khắc Bản Mệnh và một trong hai lá số rơi vào đặc điểm đầu tiên;
– những bộ sao chỉ họa cho tính mệnh xuất hiện trong lá số của một người;
– có những bộ sao chỉ tình trạng chia ly kể trên;
– có những sao chỉ tình trạng hai đời vợ/đời chồng trong lá số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu tố phụ đới, chỉ có giá trị quyết đoán khi gặp trường hợp đầu tiên.

i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:
– một trong hai lá số có những sao sát, nói lên sát nghiệp của người đó, trong khi lá số người kia có những bộ sao chết vì án mạng hoặc yểu. Trong cả hai trường hợp, đều thấy xuất hiện sát tinh hạng nặng như Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Kiếp Sát, Kình Dương, Đà La. Đôi khi có những sao như Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn, Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị hãm địa, nói lên nghiệp chướng.
– cung Phu Thê của hai lá số đều gặp nhiều trường hợp bất lợi kể ở các đoạn nói về chia ly, tử biệt, họa cá nhân, họa ngục hình;
– xét về nguyên nhân, án tình thường bắt nguồn từ sự phản bội của vợ/chồng. Vì vậy, trong số phải có những bộ sao phản bội, lăng loàn, ngoại tình, con dị bào …
– xét về hậu quả, án tình, nếu thủ phạm còn sống sót, thường hay đưa đến hình ngục, kiện cáo …
– xét về sự trùng phùng, cần quan tâm đến sự hội tụ của sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đồng cung hoặc xung chiếu với các sao tình duyên trong một đại hạn hay tiểu hạn nào đó;
– sự đối khắc giữa hai Bản Mệnh trong trường hợp này nhất định phải có;

– cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê …

+ Điều kiện về sao:
– nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) …
– phải có sao đa phu, đa thê
– phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang
– phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:
– sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.
– sao tình dục phải có ở cung Phu Thê
– sao tình dục phải có ở cung Nô, Di
– nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó
– cung Tử có những sao hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ

+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
– lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không
– nếp sống đương số có sa đọa hay không;
– cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.

+ Những dè dặt cần thiết:
– sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;
– lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;
– gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;
– gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.

g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:
– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung;
– cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm;
– cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;
– cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ;
– cung Tử có những sao chỉ con dị bào;
– lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau;
– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);
– cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;
– có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di;
– thiếu sao giải mạnh và nhiều

Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:

– Những bộ sao của Tử Vi:
Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:
Tử Sát: nếu hôn nhân bị trắc trở buổi đầu hoặc nếu muộn lập gia đình thì có thể tránh được chia ly. Tuổi muộn thông thường là quá ba mươi. Thất Sát vừa chỉ sự không may, vừa chỉ sự chậm chễ.
Tử Phá: Phá Quân chỉ sự hao tán phu thê cho nên dù đi với Tử Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ chồng phải bị chia ly, hình khắc sau khi hiềm khích, giận hờn, gây gổ nhau.

– Những bộ sao của Liêm Trinh:
Liêm ở Dần, Thân: vợ hay chồng phải chắp nối nhiều lần, có họp rồi lại tan, chưa kể việc lấy chồng/vợ nghèo.
Liêm Tướng: hai người không từ biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ nhau thường xuyên.
Liêm Tham: cũng chia ly, thông thường có một người bị hình tù.
Liêm Sát: vừa chậm gia đình vừa chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Đồng:
Đồng ở Thìn, Tuất: thông thường là bất hòa, nếu không hoặc tử biệt hoặc chia ly.
Đồng, Âm ở Ngọ: nếu muộn gia đạo có thể tránh chia ly. Thường người vợ có lỗi vì Âm hãm ở Ngọ.
Đồng Cự: Vợ chồng hay gây gổ nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự chỉ ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã, thị phi.

– Những bộ sao của Vũ Khúc:
Vũ Sát: sự khắc kỵ gia đạo hết sức nặng nề, mang lại tai họa cho vợ chồng lúc sống chung, một sống một chết, nếu không cũng chia ly.
Vũ Phá: chia ly xảy ra nếu sớm lập gia đình. Vì có Phá Quân, nên có thể hai lần tác hợp.

– Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
Dương hãm địa hay Âm hãm địa: nếu muộn gia đình thì tránh được chia ly, duy vợ chồng hay bất hòa và trước khi lấy nhau thường gặp trắc trở.
Cự Dương ở Thân: ý nghĩa như trên.
Âm Dương đồng cung: nếu muộn gia đình thì có thể tránh được cảnh chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Cơ:
Cơ Cự: chia ly nếu sớm gia đạo. Sự hiện diện của Cự Môn thường bất lợi cho gia đạo, thường báo hiệu việc bất hòa, gây gổ, hai vợ, hai chồng.
Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong việc cưới xin và nếu sớm lập gia đình dễ chia ly.

– Những bộ sao của Tham Lang:
Tham ở Thìn, Tuất: sớm lập gia đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay ghen tuông, chồng thì chơi bời.
Tham ở Dần, Thân: vợ chồng dâm đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp nhau cũng dễ chia ly.

– Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.

– Những bộ sao của Thiên Tướng:
Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: sớm lập gia đình thì sẽ bất hòa và dễ chia ly. Đời sống vợ chồng rất cần sự nhịn nhục, vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và lấn át.
Tướng ở Mão, Dậu: ý nghĩa tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp cản trở.

– Những bộ sao của Thất Sát:
Sát ở Thìn Tuất: phải vài lần lập gia đình, khó tránh được chia ly.
Sát ở Tý Ngọ: nếu sớm gia đạo, dễ chia ly. Vợ chồng là con trưởng, cả hai rất ghen tuông.

– Những bộ sao của Phá Quân:
Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm thành gia đạo thì chẳng những phải chia ly mà còn phải nhiều lần lập gia đình.
Phá ở Dần, Thân: ý nghĩa càng nặng hơn; vợ chồng chắc chắn phải chia ly vì nguyên nhân ngoại tình.
Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ: vợ chồng tối thiểu cũng có lúc xa nhau rất lâu.

– Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.

– Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.

– Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.

– Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có “mạ lỵ thậm từ” và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.

– Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ …

h. Trường hợp tử biệt:
– cung Phu Thê có Tuần, Triệt riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ, hội với sát tinh, có thể hội thêm với hình tinh, hao bại tinh, ám tinh;
– cung Mệnh đương số có Cô, Quả, Đẩu Quân, Tang, Hổ;
– số của hai vợ chồng đối khắc Bản Mệnh và một trong hai lá số rơi vào đặc điểm đầu tiên;
– những bộ sao chỉ họa cho tính mệnh xuất hiện trong lá số của một người;
– có những bộ sao chỉ tình trạng chia ly kể trên;
– có những sao chỉ tình trạng hai đời vợ/đời chồng trong lá số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu tố phụ đới, chỉ có giá trị quyết đoán khi gặp trường hợp đầu tiên.

i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:
– một trong hai lá số có những sao sát, nói lên sát nghiệp của người đó, trong khi lá số người kia có những bộ sao chết vì án mạng hoặc yểu. Trong cả hai trường hợp, đều thấy xuất hiện sát tinh hạng nặng như Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Kiếp Sát, Kình Dương, Đà La. Đôi khi có những sao như Phục Binh, Thiên Không, Tang Môn, Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị hãm địa, nói lên nghiệp chướng.
– cung Phu Thê của hai lá số đều gặp nhiều trường hợp bất lợi kể ở các đoạn nói về chia ly, tử biệt, họa cá nhân, họa ngục hình;
– xét về nguyên nhân, án tình thường bắt nguồn từ sự phản bội của vợ/chồng. Vì vậy, trong số phải có những bộ sao phản bội, lăng loàn, ngoại tình, con dị bào …
– xét về hậu quả, án tình, nếu thủ phạm còn sống sót, thường hay đưa đến hình ngục, kiện cáo …
– xét về sự trùng phùng, cần quan tâm đến sự hội tụ của sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đồng cung hoặc xung chiếu với các sao tình duyên trong một đại hạn hay tiểu hạn nào đó;
– sự đối khắc giữa hai Bản Mệnh trong trường hợp này nhất định phải có;

– cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê …

Ý nghĩa các sao chính tinh p3

Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Thái Thứ Lang cho rằng người có Thiên Cơ đắc địa thì “thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài
nhưng đầy đặn”. Nếu hãm địa thì “thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mắt tròn”.


Ý NGHĨA BÊNH LÝ
Cũng theo tác giả trên, Thiên Cơ đóng ở cung Tật thì hay có bệnh ngoài da hoặc tê thấp.
Những bệnh điển hình gồm có:
Cự Cơ đồng cung: bệnh tâm linh, khí huyết.
Cự Lương đồng cung: bệnh ở hạ bộ.
Cơ nguyệt: có nhiều mụn nhọt.
Cơ Kình hay Đà: chân tay bị yếu gân.
Cơ Khổic, HƯ: bệnh phong đàm, ho ra máu.
Cơ Hình Không Kiếp: bệnh và tai nạn bất ngờ.
Cờ Tuần, Triệt: cây cối đè phải chân tay bị thương.
Xem thế, những bệnh của Thiên Cơ rất tạp bác. Theo thiển nghĩ vì Thiên Cơ là sao suy tư nên đặc
thái bệnh trạng nổi bật nhất có lẽ là bệnh tâm linh.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
NẾU THIÊN cơ ĐAC đìa
Nhân hậu, từ thiện.
Rất thông minh, khôn ngoan.
Có nhiều mưu trí, hay bàn về chính lược, chiến lược. Với ba đặc tính này, Thiên Cơ đắc địa là vì sao phúc hậu, chỉ người vừa có tài vừa có đức, một đặc điểm hiếm có của con người.
Có óc kinh doanh, biết quyền biến, tháo vát.
Có hoa tay, khéo léo về chân tay như hội họa, may, giải phẩu.
Nếu Thiên Cơ đi liền vđi các bộ sao của những nghề này thì đó là những họa sĩ giỏi, may khéo, giải phẩu có tiếng.
Riêng Thiên Cơ bảo đảm năng khiếu về thủ công, cho dù sao này bị hãm địa hay bị sát hung tinh xâm phạm, năng khiếu đó cũng không giảm.
NẾU THIÊN Cơ HÃM ĐIA
Kém thông minh.
Có óc kinh doanh.
Đa mứu, gian xảo.
Đa dâm (đốì với phái nữ), bất chính.
Ghen tuông.
Ý NGHĨA CỐNG DANH. TÀI LỐC. PHÚC THO
NÊU THIÊN cơ ĐAC đìa thì được hưởng giàu sang và sông lâu, nhất là khi hội tụ với nhiều cát tinh.
Đặc biệt ở Thìn Tuất thì khả năng nghiên cứu rất cao, nhất là trong ngành chính trị, chiến lược. Đây là một sĩ quan tham mứu giỏi.
Ở Mão Dậu, đồng cung vđi Cự Môn, người đó có tài tham mứu, kiêm nhiệm cả văn lẫn võ. Tài năng và phú quí rất hiển hách. Riêng phụ nữ thì đảm đang, khéo léo, lợi chồng ích con, được hưởng phú quí và phúc thọ song toàn.
NÊU THIÊN Cơ HÃM ĐỈA thì lận đận, bôn ba, làm nghề thủ công độ nhất, hoặc bị tàn tật, hoặc gặp nhiều tai nạn, yểu.
Riêng phụ nữ thì vất vả, muộn gia đạo, thường gặp cảnh lẽ mọn, hoặc gặp nghịch cảnh chồng con, đau đđn vì tình.
Nếu gặp sát tinh, Hóa kỵ, Thiên hình, thì tai họa, bệnh tật rất nặng về chắc chắn không thọ.
Ý NGHĨA THIỂN cơ VẰ MỐT sổ SAO KHẤC
a) NHỮNG BÔ SAO TốT
Cơ Lương ở Thìn Tuất
Có tài năng, đức độ, mứu trí, phú quí song toàn, có năng khiếu về chiến lược, chính lược.
Cơ Cự ở Mão Dậu
Cũng có nghĩa trên, nhưng nổi bật nhất ở chổ rất giàu có, duy trì sự nghiệp bền vững.
Cơ Vũ Hồng (nữ mệnh).
Có tài năng về nữ công, gia chánh (thợ may giỏi, khéo tay, chân).
Cơ Nguyệt Đồng Lương
Nếu đắc địa cả thì người đó có đủ đức tính của một bậc nho phong hiền triết.
Nếu có sao hãm thì thường làm thư lại, công chức, b) NHỮNG BÔ SAO XẤU
Thiên Cơ, sát tinh đồng cung: trộm cướp, bất lương.
Cơ Lương Thìn Tuất gặp Tuần Triệt hay sát tinh
Gặp nhiều gian truân, trắc trở lớn trên đường đời, có chí và có scf đi tu. Nếu gặp Kình, Đà, Linh,
Hỏa hội họp, có Tưđng xung chiếu thì là thầy tu hay võ sĩ giang hồ.
Cơ Nguyệt đồng cung ở Dần, Thân gặp xương Riêu
Dâm đãng, đĩ điếm, có khiếu thì làm thi văn dâm tình, viết dâm thư kiểu như Hồ Xuân Hương.
7. Ý NGHĨA THIỂN cơ ở CẤC CUNG
Ở BÀO
Cự Cơ đồng cung: có anh chị em dị bào, thường là cùng mẹ khác cha.
Cơ đơn thủ: ít anh chị em.
Ở THÊ
Tại Tỵ Ngọ Mùi: sđm lập gia đình, vỢ chồng lấy nhau lúc còn ít tuổi, hoặc người hôn phôi nhỏ tuổi hơn mình khá nhiều.
Tại Hợi Tý Sửu: vỢ chồng khắc tính, thường chậm gia đạo.
Cơ Lương đồng cung: lấy con nhà lương thiện, vỢ chồng hòa hợp, thường quen biết trước hoặc
có họ hàng với nhau. Gia đạo thịnh.
Cơ Cự đồng cung: vỢ chồng tài giỏi, có danh chức. Nhưng vì ảnh hưởng của Cự Môn nên hai
người thường bất hòa, thường phải hai lần lập gia đình.
Cơ Nguyệt ở Dần Thân: gia đạo tốt. Nhưng trai thì sỢ vỢ trong trường hợp Nguyệt ở Thân.
Cơ Riêu Y: vỢ chồng dâm đãng.
Cơ Lương Tả Hữu: gái kén chồng, trai kén vỢ. cả hai rất ghen tuông, c )ỞTỬ
Cơ Lương hay Nguyệt: từ ba đến năm con.
Nếu đơn thủ: ít con.
Cự Cơ (hay Cơ Nguyệt ở Dần Thân): có con dị bào.
Thông thường bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Tử là chỉ dấu về con dị bào, dù không đủ bộ. d) Ở TÀI
Cơ Cự hay Cơ Lương hay Thiên Cơ ở Ngọ Mùi
Phát tài, dễ kiếm tiền và kiến được nhiều tiền. Riêng vđi Cự thì phải cạnh tranh chật vật hơn.
ở các cung khác: làm ăn chật vật, thất thường.
Duy chỉ có ở đồng cung vđi Nguyệt ở Thân thì tự lực lập nên cơ nghiệp khá giả.
Nếu có Lộc Mã: đại phú.
Ở DI
Tại Tỵ Ngọ Mùi hay Cơ Lương đồng cung hay Cư Nguyệt đồng cung ở Thân: nhiều may mắn về buôn bán ở xa, được quí nhân phù trợ, trong sô” có người quyền quí (Lương) hay chính vỢ (Nguyệt) giúp đỡ mình rất nhiều.
Cơ Cự: cũng giàu nhưng bị tai tiếng, khẩu thiệt vì tiền bạc.
Tại Hợi Tý Sửu: bất lợi khi xa nhà.
Cơ Tả Hữu: được người giúp đỡ
Ở NÔ
Cơ Lương Tả Hữu: có tôi tđ, bạn bè tốt, hay giúp đỡ mình, có công lao với mình.
Ở QUAN
Vì Thiên Cơ chủ sự khéo léo, tinh xảo chân tay, lại có mứu trí, tháo vác, thêm sự khôn ngoan học rộng, cho nên Thiên Cơ ở Quan thường rất có lợi.
Những bộ sao tốt ở Mệnh của Thiên Cơ, nếu đóng ở Quan thì cũng có nghĩa giông nhau.
Đặc biệt con có những quan cách sau:
Cơ Lương đồng cung hay Cơ Cự: văn võ kiêm toàn, có năng khiếu về chính trị, quân sự, tham mứu, dạy học, thủ công, doanh thương, kỹ nghệ, cơ khí.
Đây là bộ sao đa nghệ nhất.
Cơ Nguyệt ở Dần, Thân: có khiếu và có thời trong nghề dược sĩ, bác sĩ.
Cơ, Riêu, Tưởng: làm bác sĩ rất mát tay.
Ở ĐIỀN
Cơ Lương đồng cung, Cự Nguyệt ở Thân hay Cự Cơ ở Mão: có nhiều nhà đát.
Tại Hợi Tý Sửu Dần: nhà đất bình thường.
Tại Tỵ Ngọ Mùi: tự tay tạo dựng sản nghiệp.
Cơ Cự tại Dậu: phá sản hay lìa bỏ tổ nghiệp, nhà đất ít.
Ở PHÚC
Tại Hợi, Tý Sửu: bạc phúc, họ hàng ly tán.
Tại Tỵ, Ngọ Mùi: có phúc, họ hàng khá giả.
Cự Lương đồng cung hay Cơ Nguyệt tại Thân: thọ, họ hàng khá giả.
Tại Dần: kém phúc, bất toại chí. Đàn bà con gái trắc trở về chồng con hoặc lẳng lơ hoa nguyệt. j) Ở PHU
Tại Tỵ Ngọ, Mùi Thân: cha mẹ khá giả.
Tại Dần: cha mẹ giàu, nhưng có thể sớm xa cách mẹ.
Cơ Lương đồng cung: cha mẹ giàu và thọ.
Cơ Cự: cha mẹ xa cách, thiếu hòa khí. k) Ở HAN
Cơ, Thương Sứ: đau ốm, tai nạn, đánh nhau.
Cơ Lương Tang Tuế: té cao ngã đau.
Cơ Khốc Hỏa Hình: trong nhà thiếu hòa khí.
Cơ Kỵ Hỏa Hình Thương Sứ: tang thương đau ốYn, khẩu thiệt quan tụng.
THIÊN ĐỒNG NAM ĐẦU TINH. DƯƠNG. THỦY
VI TRÍ CỦA THIÊN ĐỎNG ở CẮC CUNG
Miếu địa : Dần, Thân.
Vượng địa : Tý.
Đắc địa : Mão, Tỵ, Hợi.
Hãm địa : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ngọ, Dậu
Ý NGHĨA Cơ THỂ
Thiên Đồng chỉ toàn thể bộ máy tiêu hóa, không đích danh chỉ có bộ phận nào rõ rệt trong bộ máy
này.
Tùy theo đắc hay hãm địa, bộ máy này sẽ bị ảnh hưởng tốt hay xấu.
Ngoài ra, đi vđi sát tinh, bộ máy tiêu hóa bị tổn thương.
Đồng Khốc Hư hay nhị hao: hay đau bụng, có khuynh hưđng tiêu chảy, sình bụng, khó tiêu, trúng thực.
Đồng Kỵ: có nghĩa như trên, dễ bị trúng thực, trúng độc.
Đồng Không Kiếp, Hình: lở bao tử, có thể mổ xẻ ở bộ máy tiêu hóa, cắt ruột, vá ruột.
Ngoài ra, Thiên Đồng thường thiên về nghĩa thích ăn uổng rượu chè, trà dư tửu lậu, do đó bộ máy
tiêu hóa bị liên lụy.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Theo Thái Thứ Lang, Thiên Đồng đắc địa thì “thân hình nở nang, hơi thấp chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông vắn và đầy đăn. Nếu hãm thì mập và đen”.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
a) NẼU THIẼN ĐONG ĐĂC ĐIA
Ôn hòa, đức hạnh.
Nhân hậu, từ thiện, hay làm phúc, không hại ai nên ít bị người hại lại thường được quí nhân giúp đỡ.
Thông minh.
Hay thay đổi
Đây là ý nghĩa nổi bật nhất: hay thay đổi ý kiến, chí hưđng, công việc, chổ ở, từ đó tính tình không nhất mực, nông nổi, bất quyết. Thành thử, có hai hậu quả quan trọng về tâm tính là:
Không quả quyết, bất định, có khi đi đến nhu nhược, hay nghe hay thay đổi lập trường, dễ bị ảnh hưởng bởi dư luận và ngoại cảnh do sự thiếu định kiến.
Không bền chí, chóng chán trong công việc hay bỏ dở nửa chừng. Điểm này không có lợi về học hành, làm ăn.
Nếu Đồng ở Di thì nhất định khuynh hướng thay đổi càng dễ dàng, sâu sắc hơn, đặc biệt là khi gặp Thiên Mã, nhị Hao hay Hóa kỵ là những phụ tinh chủ về sự thay đổi.
Riêng đối vđi nữ Mệnh, Thiên Đồng có nghĩa:
Đảm đang.
Đức độ.
Hay thay đổi chí hưđng
b) NẾU THIÊN ĐỒNG HÃM ĐIA
Kém thông minh.
Nông nổi hơn, thiếu kiên nhẫn, không lập trường.
Phóng đãng, thích chơi bời ăn uổng, hay buông xuôi, đến đâu hay đến đó.
Nói khoác, không cẩn ngôn.
Phái nữ thì đa dâm, tự do, độc lập, phóng túng.
Ý NGHĨA TÀI LỐC. PHÚC THO
Nếu đắc địa, Thiên Đồng chỉ sự giàu sang.
Nếu hãm địa thì phải lo lắng về tiền bạc, tài sản khi có khi tán, có lúc phải túng thiếu vất vả.
Ở cung Ngọ, Thiên Đồng chỉ năng khiếu kinh doanh.
Nhưng về mặt phúc thọ, vì Đồng là phúc tinh nên dù hãm địa cũng thọ.
Ý NGHĨA CỦA THIỂN ĐỎNG VẰ MỐT sổ SAO KHẮC
CÁC CÁCH TỐT
Đồng Kình ở Ngọ: có uy vũ lđn, được giao phó trấn ngự ở biên cương.
Đồng Lương ở Dần Thân: làm nên, danh giá. Ngoài ra có khiếu về y khoa, dược khoa, sư phạm rất sắc bén.
Cơ Nguyệt Đồng Lương cách: phúc thọ, làm công chức.
Đồng Âm đồng cung ở Tý: phúc hậu và thọ, đẹp đẽ.
CÁC CÁCH XẤU
Đồng Không Kiếp, Hỏa Linh: u mê, nghèo khổ, sông qua ngày, ăn mày.
Đồng Nguyệt ở Tý, Hổ, Khốc, Riêu: đàn bà đẹp nhưng bạc phận, khóc chồng.
Đồng Kỵ ở Tuất: rất xấu trừ pho tuổi Đinh thì phú quí.
Ý NGHĨA THIỂN ĐỎNG ở CẤC CUNG
a) Ở PHU THÊ
Gia đạo tốt đẹp nếu Đồng Lương đồng cung hay Đồng Nguyệt đồng cung ở Tý:
Sđm lập gia đình.
Vợ chồng xứng đôi và giàu có.
Thường có họ hàng vđi nhau.
Riêng với Nguyệt thì vỢ giàu, nể vỢ, nhờ vỢ.
Gia đạo kém tốt nếu Đồng ở Mão hay đồng cung vđi Nguyệt ở Ngọ.
Chậm hôn nhân mới sum họp lâu dài.
Vợ đẹp và hiền thục.
Gia đạo xấu nếu Đồng ở Dậu (bất hòa, xa cách), ở Tỷ, (dễ gặp, dễ xa), ở Thìn Tuất (hay cãi vã, ly cách) và nhất là Cự đồng cung (bỏ nhau, xa nhau rất lâu) hay Riêu đồng cung (ngoại tình).
b )ỞTỬ
Rất tốt nếu Đồng ở Mão (đông con), đồng cung vđi Lương, Nguyệt ở Tý (đôn con, con quí
hiển).
Kém tốt nếu ở Dậu (ít con, thay đổi chỗ ở luôn mới có nhiều con) ở Tỵ Hợi (hai con, nếu có nhiều con thì mất một sô”, con cái ly tán, chơi bời).
Xấu nếu Đồng ở Thìn Tuất (hiếm con) và nhất là đồng cung vđi Cự (ít con, con khó nuôi, bất hòa, ly tán, có thể có con riêng).
Ở TÀI
Chỉ tốt nếu Đồng ở Mão hay gặp Nguyệt ở Tý (tay trắng làm giàu, càng về già càng nhiều của) hoặc đồng cung với Lương (giàu có vì buôn bán, có tiền làm phúc).
Kỳ dư nếu Đồng ở Dậu thì tiền bạc có khi có khi thiếu; ở Ngọ thì chật vật lúc kiếm tiền, về già mđi có của; ở Tỵ Hợi thì dễ kiếm tiền nhưng hao tán và tha phương làm ăn; ở Thìn Tuất thì túng thiếu; đồng cung với Cự thì thất thường, túng thiếu, thường bị kiện tụng vì tiền bạc, phải ly hương mới có tài sản.
Ở QUAN
Tốt nhất là Đồng ở Mão, ở Tý và đồng cung với Lương:
Văn võ kiêm toàn và hiển đạt.
Có tài tham mứu, can gián thượng cấp.
Riêng với Thiên Xương thì đặc sắc về sư phạm, y khoa và chính trị.
Cả ba cách đều phú quý.
Kém tốt nếu Đồng ở Tý Hợi (phú quý bất thường, hay thay đổi công việc, công việc có tính cách lưu động) hoặc ở Dậu (muộn công danh, chức nhỏ, hay thay đổi).
Xấu nếu gặp Cự Đồng cung (công danh vất vả, hay bị dèm pha, kiện cáo, cạnh tranh).
Ở HAN
Nếu sáng sủa thì hưng thịnh về tài, danh, may mắn. Nếu xấu xa thì hậu hạn xấu (hao của, bị kiện tụng, bị đổi chỗ…).
THIÊN LƯƠNG NAM ĐẦU TINH. ÂM. MỘC
*
1. VI TRÍ CỦA THIÊN LƯƠNG ở CẮC CUNG
Miếu địa : Ngọ, Thìn, Tuất.
Vượng địa : Tý, Mạo, Dần, Thân.
Đắc địa : Sửu, Mùi.
Hãm địa : Dậu, Tý, Hợi.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Sách vở không nêu sự khác biệt tướng mạo giữa Thiên Lương đắc địa và hãm địa. Thái Thứ Lang cho rằng “cung Mệnh có Thiên Lương tọa thủ nên thân hình thon và cao, da trắng, vẻ mặt thanh tú khôi ngô .
Ngoài ra, Thiên Lương vốn là phúc tinh cho nên bao hàm sự phúc hậu, sự hồn hòa của tướng mạo.
Ý NGHĨA BÊNH LÝ
Vì là thọ tinh, cho nên Thiên Lương không có ý nghĩa bệnh lý nào. Trái lại, đây là một sao giải bệnh rất hiệu lực, như Tử – Vi, Thiên Phủ, Tuần hay Triệt khi đóng ở cung Tật.
Nếu gặp bệnh, thì chóng khỏi, hoặc bệnh không nặng, hoặc được danh y mát tay cứu vđt kịp thời, sao này tượng trứng cho Phúc đức về sức khỏe, cho dù có hãm địa cũng không đáng quan ngại.
Đi cùng với các sao bệnh họa khác. Thiên Lương có tác dụng chế giải nhiều sự bất lợi của các sao đó gây nên.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
Cho dù đắc địa hay hãm địa, đặc tính nổi bật nhất của Thiên Lương là sự nhân hậu, lòng từ thiện, tính khoan hòa, chiều chuộng, nhẫn nhục, sự khôn ngoan, sự mềm mỏng khi xử thế, nết khiêm cùng, hiền lành.
Do đó, Thiên Lương nói lên cốt cách từ bi, nho phong đạo cốt, tâm địa bác ái, nhân từ của nhà tu, của người hiền triết, của người chất phác, của bậc chính nhân quân tử, lấy lễ đãi người, dùng sự thành thật, khiêm cung để xử thế.
NẾU THIÊN LƯƠNG ĐAC đìa
Thông minh, sắc sảo, tinh tế trong trực giác và suy luận.
Có nhiều mứu cơ.
Thích bàn xét về chính lược, chiến lược.
Đi chung với Thiên Cơ, hai sao này rất nổi bật về năng khiếu giáo khoa, sư phạm, khả năng nghiên cứu tìm tòi, khảo sát các bộ môn văn học, nghệ thuật hay chính trị, chiến lược. Đó là bộ sao tham mứu rất xuất sắc, (giông như bộ sao Cự Môn Thiên Cơ đắc địa). Càng đi vđi các sao về văn học như Xương, Khúc, Khoa thì nhất định năng khiếu phán đoán càng bén nhạy hơn, có sáng tác các công trình nghiên cứu cao thâm về nhiều ngành.
NẾU THIÊN LƯƠNG HÃM ĐIA
Kém thông minh.
Nông nổi tức là hay thay đổi chí hưđng.
Không bền chí.
Hay bị nhầm lẫn trong công việc.
Thích chơi bời, phóng đãng, ăn tiêu rất lớn.
Thích phiêu lưu, du lịch, giang hồ.
Đàn bà thì dâm dật và rất ghen tuông.
Ý NGHĨA CỐNG DANH. TÀI LỐC. PHÚC THO
NÊU THIÊN LƯƠNG ĐAC ĐIA: được hưởng phú quý lâu dài, người có văn tài lỗi lạc, thường giỏi về khoa sư phạm, có uy danh lđn, đàn bà thì vượng phu ích tử.
Ngoài ra, vì Thiên Lương là phúc tinh, cho nên, nếu đi vđi bộ sao y dược thì sẽ là bác sĩ, dược sĩ có danh tiếng, trị bệnh mát tay.
NẾU THIÊN LƯƠNG HÃM ĐIA
Lận đạn trong nghề nghiệp, hay đổi nghề, khó kiếm tiền.
Phải tha hương lập nghiệp, xa cách gia đình.
Hay bị tai họa, cô đơn.
Yểu tướng.
Dễ đi vào đường tu hành.
Đàn bà thì muộn chồng hay lẽ mọn, hoặc ưu việc ong bưđm trăng hoa, khắc chồng hại con.
Càng gặp nhiều sát tinh, càng gặp nhiều bất lợi.
6. Ý NGHĨA THIỂN LƯƠNG VỚI MỐT sổ SAO KHẤC
CÁC BÔ SAO TỐT
Lương, Nhật đồng cung
Cách này được ví như mặt trời bình minh, ánh sáng ẩn tàng rực rỡ mà ôn hòa. Người có cách này được hưởng phú quý tột bực, suốt đời hanh thông.
Lương ở Tý: Nhật ở Ngọ hội xương Lộc (hay Lương ở Tý chiếu Mệnh ở Ngọ có Nhật gặp xương Lộc):
Rất thông minh, hiển đạt, có danh tiếng lđn lao.
Cách này tốt đốì với ba tuổi Đinh, Kỷ, Quí.
Lương Đồng ở Dần Thân
Sự hội tụ của hai phúc tinh ở hai vị trí này rất đắc cách càng biểu lộ tính nhân hậu, từ thiện, bác ái, quân tử nói ở mục tính tình. Người có cách này sẽ không gặp tai họa nào hung hãn, được thần linh che chở, được người đời giúp đỡ.
Thông thường, cách này được thêm Cơ Nguyệt hợp chiếu và là một cách phú và quý.
Lương ở Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ gặp Nguyệt Linh hội chiếu: người có nhiều tài năng, hiển đạt.
Lương đắc địa gặp Văn xương đồng cung: người lịch duyệt khoan hòa, danh giá. Gặp Văn Khúc, ý nghĩa cũng tương tợ như vậy.
Lương Lộc: người bác ái hay đem của bô”thí cho thiên hạ, hoặc dùng vào việc thiện.
CÁC BÔ SAO XẤU
Lương Nguyệt hãm hội chiếu
Con người giang hồ, phiêu bạt, không có định sở, tha phương lập nghiệp.
Lương Đồng Tỵ Hợi
Đàn ông thì phóng đãng, giang hồ, đàn bà thì dâm dật. cả hai cùng hay đổi chí hưđng, làm việc gì cũng hay bỏ dở nữa chừng, không bền chí, không cả quyết.
Lương ở Tỵ gặp Nhị Hao, sát tinh
Khó tránh nạn binh đao súng đạn, chết thê thảm.
Lương ở Tỵ Hợi gặp Thiên mã đồng cung
Ý nghĩa như Lương Đồng ở Tỵ Hợi. Riêng phụ nữ, lại hết sức dâm đãng và đê tiện.
7. Ý NGHĨA CỦA THIỂN LƯƠNG ở CẤC CUNG KHẮC a) Ở PHU THÊ
Lương Đồng ở Dần Thân
Sđm gia đạo. Vợ chồng có họ hàng với nhau, cả hai đều đẹp và giàu.
Lương Nhật ở Mão: rất tốt đẹp về mọi mặt, cả về hạnh phúc gia đình lẫn tiền bạc lẫn công
danh.
Lương Cơ đồng cung: vỢ chồng hiền lương, lấy nhau dễ dàng, có họ hàng với nhau. Có nhiều hạnh phúc gia đạo suốt kiếp. Có sách cho rằng Cơ Lương ở Thê Phu thì rất kén vỢ một kén chồng và rất ghen tuông.
Lương ở Tý Ngọ: sớm gia đạo, dễ lập gia đình, cả hai đều danh giá. Thường người hôn phôi là con trường.
Lương ở Tý Hợi: dễ gặp nhau lại dễ xa nhau, vỢ chồng chóng chán và hay thay đổi gia đạo. b )ỞTỬ
Lương Đồng hay Dần Thân hay Lương ở Tý, Ngọ: đông con, có quí tử, hiếu thảo.
Lương Nhật ở Mão: đông con, khá giả.
Lương Cơ: đông con, khá giả, có quí tử, có con riêng.
Lương ở Tỵ Hợi: ít con, sinh nhiều nuôi ít. Con ly tán, hoang đảng, bụi đời.
Lương Nhật ở Dậu: kiếm tiền rất chật vật, sau mới khá giả
Ở TÀI
Lương ở Tý Ngọ: (hay đồng cung vđi Nhật tại Mão, với Đồng ở Dần Thân) rất giàu, dễ giàu, ngày càng giàu.
Lương ở Tỵ Hợi
Dễ kiếm tiền nhưng cũng dễ tiêu tiền, khó giữ của lại phải lưu động kiếm tiền.
Lương Nhật ở Dậu: kiếm tiền rất chật vật, sau mới khá giả.
Ở DI
Được nhiều người kính nể, giúp đỡ, hay gặp quí nhân, được bước chân vào chỗ quyền quí nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Lương Đồng ở Dần Thân.
Lương Nhật ở Mão.
Lương Cơ đồng cung.
Lương ở Tý Ngọ.
Riêng ở Sửu Mùi thì bình thường. Còn ở Tỵ Hợi thì lang thang và chết ở xa nhà.
Ở QUAN
Lương là sao văn, thiên về quan văn, thích hợp trong ngành văn.
Được quí hiển về công danh, có năng tài về sư phạm hoặc chính trị, chiến lược hoặc y dược y khoa nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Lương Đồng ở Dần Thân (rất tốt về nhiều ngành).
Lương ở Tý Ngọ.
Lương Cơ đồng cung (rất tốt về tham mứu, sư phạm).
Lương Nhật ở Mão.
Ở Sửu Mùi thì bình thường, còn ở Tỵ Hợi thì thất thường hay thay đổi công việc, làm việc lưu động, làm việc chóng chán, bất toại chí.
Ở ĐIỀN
Được hưởng phúc thọ, tránh được tai họa, có họ hàng danh giá nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Lương Đồng ở Dần Thân.
Lương Nhật ở Mão.
Lương Cơ đồng cung.
Lương ở Tý Ngọ.
Ở Sửu Mùi thì trung bình. Còn ở Tỵ Hợi thì có nhiều tai họa, họ hàng ly táng, tha phương lập nghiệp, con trai bụi đời, con gái dâm dật, khắc chồng con
h) Ở PHU
Nếu Thiên Lương ở 4 vị trí tốt đẹp kể trên thì cha mẹ nhân đức, thọ và hiền.
Ở Sửu Mùi thì bình thường, còn ở Tỵ Hợi thì phụ mẫu bất hòa, chia rẽ, chia ly, không đồng cư vđi con cái.
f) Ở HAN
Nếu Thiên Lương ở vị trí tốt, không bị Tuần Triệt, sát tinh thì hạn tốt, hưng thịnh, công danh tài lộc, ít bệnh tật, nếu có tai họa cũng được qua khỏi.
Nếu hãm địa thì bất lợi về sức khỏe, tiền bạc. Tại Tỵ Hợi phải có thay đổi công việc.
Nếu gặp sát tinh có thể phá sản, đau nặng.
THIÊN PHỦ NAM ĐẨU TINH. DƯƠNG. THổ
1. VI TRÍ CỦA THIÊN PHỦ ở CẤC CUNG
Miếu địa : Dần, Thân, Tý, Ngọ.
Vượng địa : Thìn, Tuất.
Đắc địa : Tỵ, Hợi, Mùi.
Bình hòa : Mão, Dậu, Sửu.
Thiên Phụ không có hãm địa.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Thái Thứ Lang cho rằng người có Thiên Phủ “thân hình đầy đặn, da trắng, vẻ mặt thanh tú, răng đều và đẹp”.
Gặp Tuần Triệt hay Không Kiếp thì “cao và hơi gầy, da dẻ kém tươi nhuận”. Riêng phụ nữ có Phủ mệnh thì “vẻ mặt tươi đẹp như hoa mới nở, có cốt cách phương phi”.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
Thiên Phủ rất kỵ Tuần Triệt, Không Kiếp. Xa lánh các sao này. Phủ có nghĩa:
Khoan hòa, nhân hậu, ưa việc thiện.
Đoan chính, tiết hạnh.
Có nhiều mứu cơ để giải quyết công việc khó khăn.
Nếu gặp những sa trên thì:
Tính bưđng bỉnh, ương ngạnh.
Tính phóng túng (ăn hoang, tiêu rộng, chơi bời…)
Thích phiêu lưu, du lịch.
Hay mứu tính những chuyện viễn vông.
Gian trá, hay đánh lừa, nói dốì.
Ý NGHĨA THIỂN PHỦ VỚI MỐT sổ SAO KHẤC
CÁC CÁCH TỐT
Tử Phủ đồng cung.
Tử Phủ Vũ Tướng cách: hai cách này tốt toàn diện về mọi mặt công danh, tài lộc, phúc thọ.
Phủ Tưởng: giàu có, hiển vinh.
Phủ Vũ: rất giàu có. Càng đi chung vđi sao tài như Hóa Lộc, Lộc Tồn thì càng thịnh về tiền
bạc.
CÁC CÁCH XẤU
Thiên Phủ rất kỵ các sao Không Kiếp, Tuần, Triệt, Kình, Đà, Linh, Hỏa. Bấy giờ, uy quyền, tài lộc bị chiết giảm đáng kể.
Tuy nhiên, cần lưu ý thêm rằng Thiên Phủ chế được hung tinh của sát tinh hạng vừa như Kình, Đà, Linh hay Hỏa. Nhưng, nếu Thiên Phủ gặp đủ cả 4 sao, Thiên Phủ không chế nổi, mà còn bị chúng phôi hợp tác họa mạnh mẽ.
6. Ý NGHĨA THIỂN PHỦ ở CẮC CUNG
a) Ở PHU THÊ
Ở Tỵ Hợi, hoặc đồng cung với Tử – Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh thì vỢ chồng giàu có, hòa thuận, ăn ở lâu dài vđi nhau.
Ở Sửu Mùi Mão Dậu: vỢ chồng sung túc nhưng hay bất hòa.
Ở TÀI. ĐIỀN
Hầu hết các vị trí của Phủ ở Tài Điền đều rất đẹp, đặc biệt là ở Tỵ Hợi, hay đồng cung với Tử,
Vũ, Liêm. Ở Sửu Mùi, Mão Dậu thì kém hơn một chút.
Ở TẤT
Thiên Phủ là sao giải rất mạnh, giúp né tránh hay giảm được nhiều tai họa, bệnh tật.
Ở QUAN
Đồng cung với Tử, Vũ, Liêm thì công danh rất rực rỡ phú quí song toàn, có nhiều thành tích, nếu đi với Vũ thì thường làm quan coi về tài chính kinh tế.
Ở Sửu Mùi Mão Dậu thì quan trường không lâu dài, nhưng nếu qua buôn bán thì thành đạt.
Ở PHÚC
Đồng cung vđi Tử, Vũ, Liêm và riêng ở Tỵ Hợi thì tốt phúc, họ hàng hiển vinh. Ở Sửu Mùi Mão
Dậu thì kém hơn phải lập nghiệp xa nhà. Họ hàng giàu nhưng ly tán.
Ở HAN
Chỉ tốt nếu không gặp Tam Không. Nếu gặp Tam Không thì bị phá sản, hao tài, mắc lừa, đau yếu.
THIÊN TƯỚNG NAM ĐẦU TINH. DƯƠNG. THỦY
VI TRÍ CỦA THIÊN TƯỚNG ở CẮC CUNG
Miếu địa : Dần, Thân.
Vượng địa : Thìn, Tuất, Tý, Ngọ.
Đắc địa : Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi.
Hãm địa : Mão, Dậu
Ý NGHĨA Cơ THỂ
Thiên Tưđng là mặt, diện mạo, khí sắc từ vẻ mặt phát ra.
Thiên Tưđng gặp Nhị Hao thì mặt nhỏ, má hóp.
Thiên Tưđng Thiên Hình thì mặt có thẹo.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Có Thiên Tướng đắc địa thì mặt đẹp đẽ, uy nghi, có tinh thần và khí sắc. Thái Thứ Lang cho rằng có “thân hình nở nang, cao vừa tầm, da trắng, mặt đẹp đẽ, uy nghi”. Nếu hãm địa thì “thân hình cũng nở nang nhưng thấp”.
Thiên Tưđng, Hóa lộc: có nam tính, đẹp trai, thu hút phụ nữ.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
a) NẾU THIÊN TƯỚNG ĐAC đìa
Rất thông minh.
Ngay thẳng, thành thật, hiền lành.
Can đảm, dũng mãnh, cứng cỏi, bất khuất.
Có lòng trắc ẩn, thấy việc bất công không nhịn được, có khí tiết.

Đam mê (pqssinné).
ưa thanh sắc bề ngoài, háo danh.
Thích ăn ngon mặc đẹp.
b) NẾU THIÊN TƯỚNG HÃM ĐIA
Dễ đam mê, thích ăn chơi.
Không biết lo xa, hay bất đắc chí.
Tính liều lĩnh, hay lầm lẫn, ương ngạnh, bưđng bỉnh.
Nói chung, đàn ông có Tưđng đắc địa thủ mệnh có đủ đặc tính của nam phái, từ sự thông minh, cương trực, can đảm, uy nghi cho đến sự đam mê, do đó rất có hấp lực đối vđi phái nữ.
Đàn bà có Tưđng đắc địa ở Mệnh thì lại có nam tính nhiều hơn nữ tính như can đảm, dũng mãnh, bạo tợn, nhưng rất ghen tuông. Do đó, Tưđng hợp với nam hơn nữ.
Ý NGHĨA CỐNG DANH. TÀI LỐC. PHÚC THO
Thiên Tưđng là quyền tinh và dũng tinh, cho nên rất lợi về công danh, nhất là khi tọa thủ ở Mệnh, Quanh.
Nếu đắc địa thì được phú quí, phúc thọ, có uy quyền lđn có danh tiếng. Đàn bà thì rất đảm đang, tháo vát, cũng được phú quí, phúc thọ. Những lợi điểm này chỉ có khi Thiên, Tướng không gặp sát tinh (Không, Kiếp, Kình, Hình) hay Tuần, Triệt và khi hội tụ với nhiều sao tốt.
Nếu hãm địa thì bất đắc chí, phải chật vật vì sinh kế, hay bị tai họa, bệnh tật ở mặt.
Nếu gặp trường hợp sau đây thì rất nguy hiểm, dù Tưđng đắc hay hãm địa:
GĂP TUẦN HAY TRIÊTÁN NGỮ
Thái Thứ Lang cho rằng phải “suốt đời khổ cực, công danh trắc trở, tiền tài khó kiếm, lại hay mắc tai họa khủng khiếp, nhất là về gươm đao súng đạn, không thể sông lâu được và dĩ nhiên phải chết một cách thê thảm”.
Cách này hầu như đúng cho cả hai phái nam, nữ.
GĂP HÌNH ĐỒNG CUNG
Rất khó tránh khỏi tai họa về binh đao và chắc chắn là đầu mặt bị thương tàn hay bị tử trận, chết không toàn thây.
Võ các gặp hai trường hợp này rất hung nguy, hầu hết là những người chết trận.
Ý NGHĨA THIỂN TƯỚNG VỚI MỐT sổ SAO KHẤC
a) NHỮNG CÁCH TốT
Tử Phủ Vũ Tướng cách: uy dũng, hiển đạt.
V
Tưởng An hay Cáo: võ tưđng có danh, quân nhân được nhiêu huy chương, có công trạng lđn.
Tưởng Mã: anh hùng, tài giỏi, can đảm.
Tưởng, Y: bác sĩ. Nếu đi vđi Tả Hữu, Thiên Quan, Thiên Phúc thì thầy thuốc rất giỏi, mát tay.
Tưởng Hồng: có vỢ giàu sang, đảm đang, có chồng phú quí.
Thiên Tưởng và Tưởng quân
Hai sao nào có đặc tính giông nhau, nhưng Tưđng quân thì táo bạo, vũ phu, làm càn, có tinh thần sứ quân, ham tranh quyền, còn Thiên Tưđng thì đôn hậu, chính trực, có kỷ luật hơn. cả hai đều bất khuất, dũng khí.
Nếu cả hai đồng cung thì rất hiển hách về võ: tài ba, đảm lược, cả đốì với phái nữ (kiểu như Trứng, Triệu).
rTT|_ • Ạ rri, •/. V T • Ạ m • 1
Ihiên lương và Liêm Irinh
Tướng vốn đôn hậu nên chế được tính nóng nảy, khắc nghiệt của Liêm Trinh.
Thiên Tưởng đắc địa và Sát tinh
Khi đắc địa, Tưđng có khả năng chế được tính hung ác của sát tinh, coi sát tinh như sao tùy thuộc. Cho nên Tưđng đi vđi Phá, Tham, Phục, Kinh, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp được xem như đủ bộ, ví như tướng cầm quân, có sát nghiệp. Tuy nhiên, mối hung họa vẫn tiềm tàng và có thể sinh nghề tử nghiệp.
b) NHỮNG CÁCH XẤU
Tưởng Hình (xem mục 5).
Tưởng Tuần Triệt (xem mục 5).
Tưởng Kình: bị hiểm tai đe dọa thường trực.
Tưởng Liêm Hình: hay bị tù tội.
Tưởng Khúc Mộc Cái Đào: đàn bà rất đẹp nhưng rất dâm đãng, có thể làm đĩ sang, vđi các người có tai mắt, nổi tiếng.
7. Ý NGHĨA THIỂN TƯỚNG ở CẤC CUNG
Ở PHU
Thái Thứ Lang cho rằng bất cứ ở vị trí nào, cha mẹ cũng thọ. Ngoài ra nếu Tướng ở Tỵ Hợi Sửu Mùi hay đồng cung với Tử, Liêm, Vũ thì cha mẹ khá giả, ở các cung khác thì bình thường.
Ở PHÚC
Cũng vđi sự kết hợp với Tử, Liêm, Vũ và ở tại Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi, Thiên Tưđng có ý nghĩa phúc đức cho giòng họ và vinh hiển may mắn cho mình. Ớ các cung khác thì kém phúc lúc còn trẻ.
Ở QUAN
Đi vđi Tử – Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc và tọa thủ ở Sửu Mùi, Thiên Tướng có nghĩa thịnh đạt về văn và võ nghiệp, đặc biệt là vđi Tử – Vi thì có tài, có thủ đoạn nhưng hay á quyền. Ớ Tỵ Hợi thì tầm thường, ở Mão Dậu thì kém.
Ở TÀI
Những cách hay về Tài của Thiên Tưđng đều giông như ở Quan đặc biệt là khi Tướng đồng cung vđi Tử, Vũ, Liêm. Ở những cung khác thì bình thường.
ỞTỬ
Cùng với Tử – Vi và ở Tỵ Hợi, Sửu Mùi, Thiên Tưđng có ba con trở lên. Nhưng đi vđi Liêm và Vũ cũng như Tưđng ở Mão Dậu thì ít con, muộn con.
Ở PHU THÊ
Thiên Tưđng là sao cứng cỏi, cương nghị nên tọa thủ ở Phu Thê thì có nghĩa chung là nể vỢ, nể chồng, người này hay lấn át người kia. Do đó, gia đạo thường có cãi vả.
Cùng vđi Tử và Vũ thì vỢ chồng giàu có, phú quí. Nhưng với Liêm thì bất hòa nặng, hoặc sát hoặc chia ly. Ớ Tỵ Hợi Sửu Mùi cũng tốt nhưng dễ bất hòa, chia ly, trừ phi muộn gia đạo.
Ở Mão Dậu thì hôn nhân trắc trở, phải chậm vỢ chồng mới tốt.
g) Ở HAN
Nếu sáng sủa thì hạn đẹp về danh, tài bất ngờ.
Nếu xấu xa thì không tốt. Nhưng kỵ nhất là Tướng gặp Hình, Tuần, Triệt, Không Kiếp, sẽ bị tai họa, bệnh tật nói ở trên.

TỬ – VI
NAM VÀ BẮC ĐẨU TINH. DƯƠNG. THổ
VI TRÍ CỦA TỬ – VI ở CẤC CUNG
Theo Thái Thứ Lang, Tử – Vi được xem là một đế tinh, chủ tế các vì sao cho nên không có vị trí nào hãm địa. Bảng vị trí của Tử – Vi trong sách này được kê như sau:
Miếu địa : Tỵ, Ngọ, Dần, Thân.
Vượng địa : Thìn, Tuất.
Đắc địa : Sửu, Mùi.
Bình hòa : Hợi, Tý, Mão, Dậu
Có quan điểm dị nghị với cách đánh giá quá cao này. Quan điểm này lập luận rằng Tử – Vi có Dương tính và Thổ tính, thế tất phải bị yếu kém ở các cung Âm và những cung khắc với hành Thổ. Không có căn bản nào để gán cho Tử – Vi tính chất ưu thắng toàn diện đến nỗi đứng trên cả qui tắc tương quan Âm Dương và Ngũ Hành. Biệt lệ quá đáng dành cho Tử – Vi vì thế không mấy hợp lý.
Cho đến nay, vấn đề này chưa thấy tác giả nào có đáp scf thích đáng. Duy có điều phải công nhận
là việc đánh giá đó hơi lạc quan vì đã dành quá nhiều vị trí tốt cho một sao trong 12 cung, và trong vị trí
tốt, có đến ba hệ cấp miếu, Vượng và đắc địa. Điều đó khiến cho vị trí hãm của chính tinh thật sự không còn bao nhiêu, vả chăng căn bản đánh giá lại không được giải thích. Tác giả không tham chiếu qui luật Âm Dương, cũng không tham chiếu qui luật Ngũ Hành, cũng không ấn định qui luật nào ưu thắng khi Âm Dương và Ngũ Hành đối chọi. Thiết tưởng đây là một điểm mơ hồ khác của khoa Tử – Vi. Nó gây khó khăn cho người tìm học. Họ phải bắt buộc chấp nhận quan điểm đã có như một giáo điều, một định đề không cần phải xét lại.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Thái Thứ Lang phân biệt hai trường hợp:
Nếu cung Mệnh có Tử – Vi miếu, vượng hay đắc địa thì “thân hình đẫy đà, cao, da hồng hào, mặt đầy đặn”.
Nếu Tử – Vi bình hòa thì “thân hình vừa phải”.
Như vậy, những nét tưđng nói trên cũng không có gì làm chuẩn xác và đặc biệt. Nhưng, sách vở thì chỉ có thế. Cho nên ý nghĩa tưđng mạo là cái gì mơ hồ nhất trong các ý nghĩa của một sao.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
Các sách vở hiện có không khai triển một các phong phú ý nghĩa tính tình của Tử – Vi. Quyển sách của Thái Thứ Lang cũng chỉ gán cho Tử – Vi những đặc tính rất thông thường. Ông viết:
Ở miếu địa, Tử – Vi có nghĩa:
Thông minh.
Trung hậu.
Nghiêm cẩn.
Uy nghi.
Ở vượng địa thì:
Thông minh.
Đa mưu túc trí.
Dám làm những việc bất nghĩa.
Ở đắc địa thì:
Thông minh.
Thao lược.
Hay liều lĩnh.
Ở bình hòa thì:
Kém thông minh.
Nhân hậu.
Xem thế, đặc tính về tính tình của sao Tử – Vi rất nghèo nàn, không có gì nổi bật tương xứng với đế tinh, chủ tế các sao. Theo thiển nghĩ, nếu Tử – Vi đắc địa trở lên, sẽ có thêm những đặc tính sau:
Tài lãnh đạo, thuật dụng người.
Bản lãnh chế phục kẻ khác.
Tài tổ chức, khả năng sáng tạo.
Khả năng tạo thời thế, hoàn cảnh.
Mưu lược, quyền biết, thủ đoạn sâu sắc.
Đoan chính, ngay thẳng, trung trinh.
Đó là những đức tính của một phi thường các, khác thiên hạ về cái hay như về cái dở. Những đức tính này chỉ có nếu Tử – Vi không bị Tuần Triệt hay sát tinh xâm phạm.
Ý NGHĨA CỐNG DANH TÀI LỐC
Chủ tể cácvì sao, Tử – Vi ban cấp uy quyền và tài lộc, nếu ở vị trí miếu, vượng và đắc địa. Sự phú quí đó không cần đến phụ tinh tốt đi kèm.
Nếu được cát tinh dưới đây đi kèm, phú quí càng chắc chắn:
Thất Sát đồng cung: Sát ví như kiếm báu, đi vđi Tử – Vi làm cho Tử – Vi thêm uy lực.
Thiên Phủ đồng cung hay hội chiếu: ý nghĩa tài lộc nặng hơn vì Phủ là kho của trời, tượng trứng cho ngân sách quốc gia.
Thiên tưởng đồng cung: Tử – Vi có Thiên Tướng như minh quân có lương thần.
Tả, Hữu, xương, Khúc, Khôi, Việt… làm cho Tử – Vi thêm vây cánh, tượng trứng cho vì vua có quân thần, bảo đảm thêm tài lộc, quyền. Sự hội tụ này càng làm nổi bật đuc tính phi thường của Tử về lãnh đạo, tổ chức, khả năng tạo thời thế và chế phục thuộc cấp.
Ở vị trí bình hòa, Tử – Vi cần có thêm nhiều cát tinh mđi bảo đảm phú quí.
Tử – Vi cần tránh gặp Tuần, Triệt, Kình, Đà, Không, Kiếp. Đây là những hung đồ, nịnh thần làm hại uy quyền, giảm công danh phá sự nghiệp. Cụ thể hơn, nếu gặp phải thì danh tài chỉ còn bình thường, chưa kể họa hại kèm theo.
Nếu là nữ Mệnh thì người đó đê tiện, dâm đãng, khắc hại chồng con, tuy có khá giả.
Ý NGHĨA PHÚC THO. TAI HOA
Tử – Vi cũng là phúc tinh nên ban phúc cho các cung tọa thủ. Đặc biệt Tử – Vi chế được hung tính của hai sao Hỏa Tinh và Linh Tinh.
Tuy nhiên, ở bôn cung Hợi, Tý, Mão, Dậu, Tử – Vi không còn rực rỡ, do đó hiệu lực cứu giải tai họa bị giảm thiểu đi nhiều.
Càng bất lợi hơn nếu Tử – Vi bị Tuần Triệt hay sát tinh xâm phạm. Trong trường hợp này, đương sự gặp phải những nghịch cảnh lđn như:
Mồ coi cha mẹ, góa bụa.
Khắc anh chị em, hay khắc chồng con.
Thường bệnh hoạn, bị tàn tật.
Phải tha phương lập nghiệp.
Gặp nhiều cảnh hiểm ngào.
Yểu tử.
Nghèo khổ, xui xẻo, nữ mệnh thì muộn chồng, làm bé.
Công danh trắc trở, lao tâm chật vật.
Riêng ở Mão Dậu, đồng cung với Tham Lang, Tử – Vi tượng trứng cho người bi quan yếm thế, có chí đi tu, sẽ được hưởng sự thanh nhàn, phúc đức.
6. Ý NGHĨA TỬ – VIVẰ MỐT sổ SAO KHẮC
NHỮNG BÔ SAO TốT
Tử – Vi, Thiên Phủ tọa thủ hay giáp Mệnh.
Tử – Vi, Thiên Tưởng.
Tử – Vi, Thất Sát hay Tử Vũ.
Tử – Vi, Tả, Hữu, xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc, Long, Phượng, Quang, Quý, Đào, Hồng…
Tử, Phủ, Vũ, Tưởng cách.
Tử, Phủ, Kỵ, Quyền hay Tử, Sát, Quyền ở Tỵ Hợi.
Hay nhất là cách Tử Phủ Vũ Tướng có kèm theo cát tinh kể trên. Đó là cách đế vương, báo hiệu
một sự nghiệp vang lừng, ngôi vị sao siêu hàng nguyên thủ (Tổng Thông, Thủ Tưđng, Tổng Trưởng có
thực quyền). Nếu không gặp sát tinh thì ngôi vị vững vàng, dễ tạo và quyền bính trong thời bình. Ngược lại, nếu bị Kình, Không, Kiếp, Hỏa Linh đắc địa đi kèm thì đắc vị trong thời loạn, tài năng chỉ được thi thô” trong cảnh loạn ly, chiến tranh, hoặc phải gặp nhiều hoàn cảnh hết sức khó khăn, đòi hỏi sự đấu tranh chật vật.
NHỮNG BÔ SAO XẤU
Tử – Vi Tuần hay Triệt: người không gặp thời mà gặp nạn, không thể mứu đại sự được, cho dù có chí lớn.
Tử – Vi Thất Sát gặp Tuần Triệt: cũng có nghĩa trên, mứu sự bất thành, chỉ có hư danh, hay gặp tai họa.
Tử – Vi ở Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi): bất trung, bất hiếu vì ở các vị trí này Tử – Vi gặp
Thiên la, Địa võng, (Thìn Tuất) và có Phá Quân đi kèm.
Nếu được cát tinh hội tụ hóa giải thì mới có uy quyền và danh tiếng. Tại các vị trí này, Tử – Vi gặp cả cát tinh và hung tinh là người đặc biệt có mứu lược, biết dùng người, có nhiều thủ đoạn, dám làm việc bất nghĩa, chế phục hung đồ, sử dụng được cả người tốt, người xấu.
Nếu Tử Phá thiếu cát tinh: thì bất nhân bất nghĩa, độc ác, khát máu, tham nhũng thường bị
thất bại nặng hoặc phải phá sản một lần.
Tử – Vi Tham Lang đồng cung: đi tu (nếu hội thêm Không Kiếp thì càng chắn chắn).
Tử – Vi Không Kiếp Đào Hồng: sô” yểu vong.
Tử – Vi Kình Đà Quyền Lộc: tốt nhưng lòng dạ hung hiểm, độc ác, vô đạo, phi nhân, bất
nghĩa.
Nói chung, Tử – Vi, Thiên Phủ càng tốt bao nhiêu thì Không Kiếp càng xấu bấy nhiêu. Sự hội tụ với Không Kiếp làm Tử – Vi mất hầu hết uy lực về mọi mặt.
7. Ý NGHĨA CỦA TỬ VI ở CẤC CUNG
Ở PHU
Cha mẹ giàu sang, thọ, giúp đỡ được con cháu, để di sản lại nếu được Tử – Vi ở các cung sau:
Ở Ngọ, Tý.
Thiên Phủ hay Thiên Tưđng hay Thất Sát đồng cung.
Riêng với Thất Sát thì cha mẹ bất hòa với nhau hay bất hòa vđi con cái.
Những bất lợi gồm có:
Tử – Vi Phá Quân đồng cung: khắc cha mẹ, mồ coi, hoặc phải xa cha mẹ, hạnh phúc gia đình
kém.
Tử – Vi Tham Lang: cũng có ý nghĩa trên.
Tuy nhiên cần phải xem thêm hai sao Thái Dương và Thái Âm để phôi hợp luận đoán vì hai sao này tượng trứng cho cha và mẹ.
Dù ở vị trí tốt nhưng nếu Tử – Vi gặp sát tinh thì mức độ tốt giảm đi nhiều có thể trở thành xấu, tùy theo loại hung sát tinh nhẹ hay nặng.
Ở PHÚC
Những trường hợp tốt – được hưởng phúc lâu dài, ít tai họ, giòng họ danh giá, phú quí – được nhận thấy ở các vị trí sau đây của Tử – Vi:
Ở Ngọ, Tý, tốt nhất là ở Ngọ.
Thiên Phủ, hay Thiên Tưđng đồng cung.
Thiên Sát đồng cung, nhưng trường hợp này, vì gặp sát tinh nên họ hàng hay chính mình phải lưu lạc, xa quê mới tốt.
Những trường hợp xấu về phúc đức – xa nhà, họ hàng thất tán, giảm thọ, nghèo, nếu khá giả thì yếu – được nhận thấy tại các vị trí Tử – Vi sau đây:
Tử – Vi Phá Quân đồng cung.
Tử – Vi Tham Lang đồng cung.
Tử – Vi gặp sát tinh khác nhất là Không Kiếp, Kình Đà, Linh Hỏa. Đây là trường hợp bất lợi
nhất.
Ở ĐIỀN
Ở các vị trí tốt kể trên, điền sản dồi dào, nhiều nhà cửa, phát đạt thêm mãi, được hưởng di sản hay tự tay lập nên.
Nhưng nếu Tử – Vi đồng cung với Sát, Phá, Tham thì không giữ được của (dù lđn lao) hay phải phá sản (gặp Phá đồng cung) và phải sa sút dần dần. Đặc biệt nếu gặp thêm hung sát tinh thì có thể đi đến vô sản.
Ở QUAN
Những bộ sao tốt và xấu ở Mệnh đều áp dụng cho Quan. Tốt nhất là Tử – Vi ở Ngọ hoặc đồng cung với ba chính Tướng, thì hay á quyền, độc tài, tranh quyền, người hay đảo chánh hoặc lấn quyền.
Đi với Thất Sát thì có năng khiếu về võ nghiệp.
Nếu đồng cung với Phá, Tham thì kém hơn, cụ thể như gặp sự thăng trầm, tai họa, bất đắc chí trong quan trường, rồi xoay qua doanh thương.
Ở DI
Các cách Tử – Vi ở Ngọ, Tử – Vi ở Tý, Tử Phủ, Tử Tưđng, Tử Sát đều tốt – cụ thể là được xã hội thuận lợi – gặp môi trường thuận tiện phùng thời, gặp nhiều người giúp đỡ, giao thiệp vđi bậc quyền quí và càng ra ngoài nhiều càng may mắn, được tín nhiệm kínjh nể, hậu thuẫn.
Bất lợi là gặp Phá, Tham, sát tinh thường bị nghịch cảnh bên ngoài, bị dèm pha, đâm chọc, quấy
nhiễu, chết tha phương, bị giết, bị ám sát.
Ở TẤT
Tử – Vi là phúc tinh, đóng ở Tật rất tốt, giúp cứu giải nhiều tai ương, hiểm họa. Đây là sao giải mạnh nhất trong các giải tinh, có hiệu lực giông như Thiên Phủ, Thiên Lương.
Dù đồng cung với Thất Sát cũng có giá trị giải cứu mạnh.
Ở TÀI
Riêng Tử – Vi cũng là một sao tài, cho nên ở miếu vượng hay đắc địa sẽ bảo đảm tiền bạc dồi dào, miễn là không gặp Tuần Triệt hay sát tinh.
Đặc biệt đi vđi chính tinh chủ về tiền bạc như Thiên Phủ, Vũ Khúc thì càng thịnh vượng hơn nữa. Trong trường hợp này đương sự thường giữ trách nhiệm về tiền bạc như ngân hàng gia, Tổng Giám đốc Ngân khố- hay Bộ Trưởng Tài Chính.
Đồng cung với Thất Sát cũng làm giàu dễ dàng và nhanh chóng.
Nhưng nếu ở Tý thì kém giàu hơn các trường hợp trên. Đồng cung vđi Phá thì trước nghèo sau
sung túc, nhưng có lần phá sản.
Đồng cung với Tham thì tầm thường, của cải giảm sút lần lần, cho dù có di sản.
Nếu gặp sát tinh nặng chắc chắn có lần phá sản.
h )ỞTỬ
Tử – Vi vừa là Nam đẩu vừa là Bắc đẩu nên tọa thủ ở Tử Tức sẽ có cả trai lẫn gái. Đắc địa trở lên
đồng cung vđi Phủ, Tướng thì đông con và con khá giả.
Với Thất Sát thì khó nuôi con, nhất là thêm các sao xấu và hiếm muộn thì ít con, muộn con.
Cùng với Phá, Tham thì ít con và xung khắc với cha mẹ.
i) Ở THÊ. PHU
Thập toàn nhất là khi Tử – Vi ở Ngọ và đồng cung với Thiên Phủ: gia đìng tương đắc, hòa khí giàu có, chung thủy.
Tử – Vi, Thiên Tướng: vì Thiên Tướng là sao cứng cỏi nên vỢ chồng rất can trường, cả hai đều có bản lãnh. Do đó có thể có xích mích, nhưng vẫn khá giả. Thông thường vỢ hay chồng là con trưởng.
Gặp Sát, Phá, Tham nói chung thì có trắc trở vì ba sao này không hợp với gia đạo. Sự trắc trở biểu lộ rằng:
Muộn gai đạo (gặp Sát, Tham) mới tốt.
Hình khắc, chia ly (gặp Phá, vì Phá chủ về hao tán phu thê).
Xung đột, bất hòa (gặp Tham, chủ sự ghen tuông).
j) Ở BÀO
Có Tử – Vi nói chung: có anh cả, chị cả vì Tử – Vi chủ về người đứng đầu.
Các trường hợp tốt – anh em đông, khá giả, hòa thuận – được thấy trong bộ sao Tử – Vi ở Ngọ, hoặc đồng cung với Thiên Phủ, Thất Sát.
Riêng vđi Thiên Tướng thì tuy khá giả nhưng hay tranh cãi bất hòa vì Thiên Tưđng chủ sự ương ngạnh, cương cường, bất nhẫn.
Bất lợi hơn nếu Tử – Vi đồng cung với Phá Quân (có anh em dị bào xa cách nhau bất hòa) với
Tham Lang (ly tán, nghèo, khổ, vất vả) và nếu gặp sát tinh (anh em tử trận, hao hụt lần hồi, không có
anh em, hay anh chị em là côn đồ, du đãng, đĩ điếm).
k) Ở HAN
Sao Tử – Vi không có vị trí hãm địa, nếu nói chung đại tiểu hạn gặp các cung miếu, vượng hay đắc địa, hoặc đồng cung vđi Thiên Phủ, Thiên Tưđng, Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc thì rất tốt, danh tài đều lợi, may mắn toàn diện. Nếu đi vđi Khôi Việt thì nhiều thắng lợi về mọi mặt.
Riêng ở các vị trí bình hòa như Tý, Hợi, Mão, Dậu thì kém tốt, bình thường, nên nếu gặp bất lợi thì khó qua khỏi.
Đặc biệt nếu gặp Tuần Triệt ở cả hai hạn thì tính mạng lâm nguy.
Gặp sát tinh (Không, Kiếp, Kỵ, Hình): đau ốm, mất của, kiện tụng.
Gặp Kình, Đà, Kỵ: đau ốm, mắc lừa.
VŨ KHÚC BẤC ĐẨU TINH, ÂM, KIM.
1. VI TRÍ CỦA VŨ KHÚC ở CẤC CUNG
Miếu địa: Thìn, Tuất, Sửu Mùi.
Vượng địa: Dần, Thân, Tý, Ngọ.
Đắc địa: Mão, Dần.
Hãm địa: Tỵ, Hợi.
2. Ý NGHĨA Cơ THỂ;
Vũ khúc chỉ có hai bộ phận : vú và nốt ruồi.
Đổi VỚI VÚ: Không thấy sách vở nào đề cập chi tiết những đặc điểm của bộ ngực qua sao Văn Khúc. Có lẽ vì quan niệm xưa không chú trọng đến bộ ngực phụ nữ, điều mà ngày nay được phái đẹp xem như một mốì quan tâm trọng yếu cho sắc đẹp cơ thể.
Không thể suy diễn từ vị trí đắc địa hay hãm địa của Vũ Khúc để kết luận về bộ ngực phụ nữ. Điều này chắc chắn đưa đến nhiều sai lầm.
Tuy nhiên, có lẽ việc sát, hao và bại tinh xâm phạm Vũ Khúc có thể ảnh hưởng đến bộ ngực phụ nữ không ít.
Đổi VỚI NổT RUổĩ: nếu Vũ Khúc đi với Đào hay Hồng thì nốt ruồi son.
– Ý NGHĨA TƯỚNG MAO:
Nếu Vũ Khúc đắc địa, người đó có thân hình nở nang cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dày (có sách cho là mặt vuông), vẻ mặt uy nghi, tiếng nói to, có nốt ruồi ở chỗ kín.
Nếu hàm địa thì người bé nhỏ, thấp, hơi đen, có nhiều ngấn vết, tóc rậm và xấu.
– Ý NGHĨA BÊNH LÝ:
Vũ ở mão, dù là đắc địa, thường bị bệnh thần kinh hay khí huyết
Vũ ở Dậu, thì bị nội thương khó chữa.
Vũ tưởng đồng cung ở Tật: có ám tật.
Vũ Tham xương Khúc đồng cung: nhiều nốt ruồi, hay mắc bệnh có liên quan đến lông tóc.
Vũ Sát đồng cung: bệnh ở bộ máy tiêu hóa.
Vũ Long đồng cung: có nốt ruồi nhỏ.
Vũ Riêu đồng cung: bệnh tê thấp hay phù chân tay.
Vũ Riêu Việt Toái: câm
5.- Ý NGHĨA TÍNH TÌNH;
a) NẾU VŨ KHÚC ĐAC ĐỊA:
Thông minh.
Có chí lớn, hay mứu đồ đại sự.
Có óc kinh doanh, có tài buôn bán.
Tính mạnh bạo, quả quyết, cương nghị, thẳng thắn.
Hiếu thắng.
Đối vđi phụ nữ, các ý nghĩa kể trên không thay đổi: đó là người tài giỏi, gan dạ, can trường, b) NẾU VŨ KHÚC HÃM ĐIA
Kém thông minh.
Tham lận, thiếu lương thiện.
Hà tiện, bủn xỉn.
Ương ngạnh.
Ý nghĩa này càng sâu sắc nến Vũ Khúc gặp thêm sát tinh. Riêng đối vđi phụ nữ thì :
Tham lận, bạo tợn.
Hay lấn át chồng.
Bạo ngược lăng loàn (nếu gặp sát tinh).
– Ý NGHĨA TÀI LỐC. CỐNG DANH;
Vũ Khúc vốn là sao tài nếu ý nghĩa tài lộc rất mạnh.
NẾU VŨ KHÚC ĐAC ĐỊA:
Suốt đời giàu sang, tiền bạc dư dả, được nắm giữ tiền bạc.
Có uy danh lừng lẫy, sự nghiệp lđn lao.
NẾU VŨ KHÚC HÃM ĐỊA:
Bất đắc chí, công danh trắc trở.
Tiền bạc khó kiếm.
Thường phá tán tổ nghiệp.
Thường phải ly hương tự lập, không nhờ được người thân.
NẾU VŨ KHÚC Ở SỬU MÙI:
Lúc thiếu thời thì no ấm, nhưng còn bất đắc chí vê công danh và tiền bạc. Sau 30 tuổi và càng về già càng tốt.
– Ý NGHĨA PHÚC THO. TAI HOA;
Tiên quyết đối vđi cả hai phái, dù là đắc hay hãm địa, Vũ Khúc là sao cô đôc, thường cách biêt với người thân, ít bè ít ban, nếu không khắc cha me, anh em, tất phải khấc vđ hay chổng, khấc con hay hiếm con.
Sao này ví như sao Cô Thần, Quả Tú, cho dù có đủ vỢ đủ chồng, đủ con, người đó vẫn cảm thấy lẻ loi, cô độc, hoặc chịu những bất hạnh của chồng ngoại tình hay dang dở, của con bất mục “một mãnh tình riêng ta vđi ta”, chưa kể trường hợp không chồng nếu Vũ hãm đi liền vđi Phúc, Mệnh Thân xấu.
Cũng có nghĩa cô độc, ít hạnh phúc gia đình và xã hội, nếu Vũ Khúc đi liền với Cô, Quả, Đấu Quân, Thái Tuế, là những sao hiu quạnh, làm tăng ý nghĩa lẻ loi của Vũ Khúc.
a) NẾU VŨ KHÚC ĐAC ĐIA:
Hưởng phúc.
Sông lâu.
b) NẾU VŨ KHÚC HÃM ĐỊA:
Lao tâm khổ trí.
Nữ thì ưu phiền vì gia đạo, khắc chồng hại con.
Bị bệnh tật, tai họa.
Yểu tử.
Nếu thân sát tinh, các nghĩa này càng chắc chắn và mạnh mẽ hơn.
Riêng ở Mão thì khó tránh tai nạn xe, chưa kể các bệnh tật khả hữu liệt kê ở mục bệnh lý.
– Ý NGHĨA CỦA vũ KHÚC VẰ MỐT sổ SAO KHẤC:
CÁC CÁCH TỐT
Vũ khúc, Văn khúc đắc địa: thông minh, học rộng, có tài năng, biết cả văn lẫn võ, làm việc bán văn bán võ, nếu là võ nghiệp thì làm ở văn phòng, làm tham mứu, thiết kế.
Vũ, Khôi, Việt: làm giám quan tài chính, coi việc xuất, nhập kho tàng, kiểu như Tổng Giám
Đốc Ngân Khố- hay Tổng Đốc Ngân Hàng
Vũ Lộc Mã: lập nghiệp ở xa quê hương nhưng rất thịnh vượng. Nếu ở dần có cách này thì sự nghiệp rất lđn ở tha hương.
Vũ Lộc Quyền ở Dẩn Thân: hết sức giàu có như Vương Khải (như Vũ Tướng ở Dần Thân).
Vũ Quyền Nữ Mệnh: đàn bà khôn ngoan tần tảo, gầy dựng tất cả sự nghiệp cho chồng, chồng phải nể vỢ.
Vũ Tâu Đào Hồng Hỷ: ca sĩ, kịch sĩ giỏi, thợ may khéo.
Vũ Hình Riêu Tâu: thợ mộc giỏi.
CÁC CÁCH XẤU CVÀ THƯỜNG:
Vũ Phá Tỵ Hợi : tham lận, bất lương , lập nghiệp ở xa, suốt đời vất vả, lao khổ, không giữ được nghiệp tổ mà phải phá tán cho đến hết.
Vũ, Sát, Phá Liêm ở Mão: bị tai nạn về điện lửa, sấm sét và bệnh thần kinh, cô đơn, bần hàn.
Vũ, Kình Đà, Phá: bị khôn hại vì tiền.
Vũ hãm, Kiếp Sát đồng cung, Kình chiếu: rất gian ác, bất lương, giết người không gướm tay, khát máu.
VŨ Ở SỬU MÙI:
Nếu Mệnh Thân an ở Sửu Mùi có Vũ Tham đồng cung thì trưđc nghèo sau giàu, càng già càng phú
quí.
Nếu gặp kiếp đồng cung thì luận đoán đảo ngược.
– VŨ KHÚC ở CẤC CUNG KHẤC:
a) Ở TÀI:
Vũ là sao tài, đóng ở tài tất mang lại tiền bạc. Tài lộc đồi dào hay không còn tùy vị trí đắc địa hay hãm đia của Vũ Khúc và còn hôi tu vđi cát tinh.
Các sao hợp vđi Vũ về tài lộc gồm có:
Chính tinh:
Thiên Phủ, Am Dương sáng sủa, Tử vi, Thiên tưđng.
TrỢtinh:
Hóa Lộc, Lộc Tồn, Sinh, Vượng, Thai Tọa, Quang Quý, Tả Hữu, Long Phượng, Đẩu Quân, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Mã, Hóa Quyền.
Các sao khắc vđi Vũ Khúc về tài lộc:
Chính tinh:
Phá Quân đồng cung.
TrỢtinh:
Đại, Tiểu Hao, Tuần, Triệt, Không Kiếp, Kình Đà, Phục Binh, Hóa Kỵ.
Tùy theo sự hội tụ ít nhiều và đặc tính nặng nhẹ các sao đi kèm, tùy theo sự đồng cung hay chiếu mà kết hợp luận đoán, sau khi xét qua hàm scf của Phúc, Mệnh, Thân.
Ở ĐIỀN:
Sự luận đoán giông như ở cung tài.
Ở TẬT :
Xem mục bệnh lý của Vũ Khúc
Nếu hợp mệnh lại đắc địa thì khí quyết tốt, mạnh khỏe luôn. Nếu hãm địa và khắc Mệnh thì hay có bệnh phong hay trĩ.
Ngoài ra người mệnh Kim và Thủy (tức là hai hành tương sinh với Vũ Khúc) cũng ít bệnh. Trái lại, nếu mệnh Mộc và Hỏa thì bệnh nhiều hơn.
Ở Di:
Mệnh Thủy, Thổ và Kim gặp Vũ đắc địa lại thêm cát tinh tốt hội chiếu thì ra ngoài buôn bán làm giàu rất dễ dàng.
Nếu hãm đại và mệnh khắc Vũ khúc thì là tiểu thương hoặc khó kiếm tiền.
Dù sao Vũ ở Di tất phải đi xa làm ăn.
Ở QUAN:
Ba loại mệnh Thổ, Thủy, Kim gặp Vũ đắc địa ở quan lộc và thêm cát tinh hội chiếu thì sự nghiệp công danh vô cùng hiển đạt.
Vũ Phủ đồng cung: công danh hoạt đạt, có tài kiêm văn võ, có chức vụ liên quan đến kinh tề, chính trị.
Vũ Tưởng đồng cung: quan trường hay thương nghiệp đều đắc lợi.
Vũ Sát đồng cung: võ hiển, thường lập chiến tích ở xa nhưng thăng giáng thất thường.
Vũ Phá đồng cung: võ nghiệp nhưng vất vả, không bền, xoay nghề buôn thì phát.
Vũ Tham đồng cung: buôn bán làm giàu, nhưng phải sau 30 tuổi.
Tùy sự hội tụ với các sao nhỏ, ý nghĩa sẽ uyển chuyển đi.
f) Ở HẠN:
Vũ Lộc Mã Cơ Hỷ, Loan: thành gia thất.
Vũ Cự Quyền: được lệnh trấn nhậm biên cương.

Ý nghĩa các sao chính tinh p1

Sự phân biệt nói trên không lấy gì làm chính xác. Bất luận sao nào đắc địa đều có ít nhiều ý nghĩa phúc, thọ, phú, quí, tài, quyền… Sự phân loại nói trên cốt để chỉ vị trí thích hợp nhất của 1 chính tinh mà thôi.

 


Ví dụ: Thái Dương chủ về quan lộc ở cung Quan lộc thì hợp, Thái Âm chủ điền trạch ở cung Điền rất tốt, Vũ Khúc, Thiên Phủ chủ về tài lộc ở cung Tài thì đúng chổ… Tuy nhiên, quan trọng vẫn là sự đắcđịa. Nếu Vũ Khúc được Tài Bạch mà hãm địa thế tất không có nghĩa là giàu có. Thái Dương hãm ở cung Quan cũng không quí. Vì vậy phải có cả 2 điều kiện tối hảo:
Đắc địa.
Ở vị trí thích hợp với đặc tính chủ yếu của sao.
Cự MÔN BẮC ĐẨU TINH. ÂM. THỦY
VI TRÍ CƯ MÔN ở CẤC CUNG
Miếu địa : Mão, Dậu.
Vượng địa : Tý, Ngọ, Dần
Đắc địa : Thân, Hợi
Hãm địa : Thìn Tuất, Sửu Mùi, Tỵ.
Ý NGHĨA Cơ THỂ
về cơ thể, Cự Môn là cái miêng. Nếu gặp Hỏa hay Linh thì miệng méo.
Tuy nhiên, nếu cung Tật có Cự Môn thì bệnh tật lại không liên quan đến miệng mà liên quan đến bô phân sinh duc. Dù vậy, sách không nói rõ là Cự Môn chỉ bộ phận sinh dục.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Dù đắc địa hay hãm địa, Mệnh có Cự Môn thì “thân hình đẫy đà, thấp, da trắng, mặt vuông vắn, đầy đặn, mắt lộ” (Thái Thứ Lang, Tử – Vi Đẩu sô”, trang 222) sách cũng không nói rõ đặc tính về miệng.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
a) NẾU Cư MÔN ĐẮC ĐIA
Thông minh, có khả năng phán xét tinh vi.
Nhân hậu.
Mưu trí.
Có tài hùns biên. Đây là một đặc tính trội nhất.
Càng đi chung với nhiều sao chỉ về ngôn ngữ, năng khiếu này càng sắc bén. Chẳng hạn như đi với Hóa khoa, Xương, Khúc, Thái Tuế, Lưu hà thì có tài diễn thuyết, nói năng lưu loát, hùng hồn, đanh thép, có sức thu hút cử tọa: Đây là ưu điểm nổi nhất của các luật sư, chính trị gia, giáo sư, người sách động quần chúng (meneur cThommes).
Do 2 đặc điểm mứu lược và tài ăn nói trên, người có Cự Môn tọa thủ ở Mệnh có những năng khiếu:
về chính trị.
về tư pháp, ngoại giao.
Đó là những người ham thích hoat đôns chính tri. có óc và có tài lãnh đạo quần chúng, vận động đám đông, có thủ đoạn tổ chức và hoạt động, nhất là khi đi kèm vđi các sao chủ về chính trị, tư pháp như Tang, Hồ, Thái Tuế, Quan Phù, Khốc, Hư.
Thành thử, khi khảo sát sao Cự Môn, phải lưu tâm đến sự hội tụ của các sao khác đồng nghĩa để quyết đoán mức độ của ý nghĩ trên.
Đặc biệt, sao Cự Môn có 2 vị trí rất đẹp ở Tý và Ngọ chỉ họa lực học rộng, tài cao, đồng thời với đức độ.
Đây là Cách “Thach Trung Ẩn Nsoc” (ngọc dấu trong đá) một cung cách của nho phong hiền triết. Tuy nhiên, muôn đắc thời phải có một trong những điều kiện:
Hóa Lộc đồng cung;
Ạ _ * A 1 /
Tuân, Triệt án ngữ;
Đại Tiểu Hao đồng cung.
Người đắc cách này rất rực rỡ về tài, đức, phú, quí. Nếu không được 1 trong những điều kiện trên, hoặc là phải đồng cung với Lộc Tồn thì là người đa học, đa năng, nhưng không gặp thời.
b) NẾU Cư MÔN HÃM ĐIA
Kém thông minh, hay nhầm lẫn.
Ăn nói vụng về, khoác lác nên hay bị miệng tiếng, cãi vã. Đây cũng là một đặc tính nổi bật.
Không thích giao thiệp, ít bạn bè. về điểm này, Cự Môn giông đặc tính của Cô Thần, Quả Tú, Đẩu quan.
Hay thay đổi thất thường (giông như sao Hóa Kỵ).
Đa nghi.
Gian quyệt, tham lam.
Bất đắc chí, bất mãn.
Riêng đối vđi phái nữ, còn có thêm ý nghĩa:
Điêu ngoa lắm điều.
Đô” kỵ, ghen tuông.
Đa dâm.
Như vậy, Cự Môn hãm địa là một ám tinh theo nhiều nghĩa, về tinh thần cũng như về đạo đức, cho nên còn được gọi là Cự Ám hay Ám Không.
Tuy nhiên, có ngoại lệ với 2 tuổi Quí và Tân. Gặp 2 tuổi này dù Cự Môn có hãm địa, những tính xấu kể trên bị giảm nhẹ đi nhiều, đặc biệt là có óc thông minh.
Ý NGHĨA TÀI LỐC
Nếu đắc địa, Cự Môn chỉ giàu sang, có uy danh. Đàn bà thì tài giỏi, đảm đang, lợi chồng.
Nếu hãm địa, thì vất vả, khổ sở, nhất là khi Cự Môn tọa thủ ở Thìn Tuất.
Tuy nhiên, có ngoại lệ đốì với 2 tuổi Quí và Tân gặp Cự Môn hãm địa ở Thìn Tuất và 2 tuổi Ất, Bính gặp Cự Môn hãm địa ở Sửu Mùi. Trong 4 trường hợp này thì hiển đạt, khá giả.
Ý NGHĨA PHÚC THO. TAI HOA
Nếu đắc địa, Cự Môn có ý nghĩa phúc thọ.
Nếu hãm địa, ý nghĩa xấu rất nặng nề.
Hay bị khẩu thiệt, miệng tiếng.
Hay bị kiển cáo, tù tội.
Hay bị tai nạn.
Hay bị bệnh nan y. Thái Thứ Lang cho rằng bệnh này ở mắt (?) hay ở bộ phận sinh dục.
Yểu tử, nếu không bỏ quê nhà tha phương cầu thực.
Đàn bà thì khắc chồng hại con.
Ở đây, cũng có trường hợp ngoại lệ đốì vđi 4 tuổi Quí, Tân và Ất, Bính: trong trường hợp này,
tai họa sẽ chiết giảm đi nhiều.
Tuy nhiên, Cự Môn rất kỵ sao Hóa kỵ, dù là Cự Môn đắc địa. Nếu hai sao đồng cung sẽ gặp nạn chết đuôi đụng xe hau tai nạn trinh tiết.
Ngoài ra, Cự Môn hãm địa còn rất kỵ thêm các sát tinh (như Kình, Đà, Không, Kiếp, Linh, Hỏa) và hình tinh (như Thiên hình): tai họa bệnh tật rất nặng và thường phải yểu tử và chết thảm.
7. Ý NGHĨA CƯ MÔN VẰ MỐT sổ SAO KHẤC
NHỮNG BÔ SAO TốT
Cự, Nhật đồng cung ở Dần:
Vinh hiển và danh giá suốt ba đời (ông, cha, mình). Nếu ở Thân thì không bằng ở Dần, chỉ khá giả mà thôi, trước có công danh, sau mđi có tiền bạc.
Nếu thêm Quyền, Phượng:
Sự tốt đẹp tăng thêm. Tuy nhiên nếu gặp Lộc Tồn thì lại xấu, suốt đời bất đắc chí.
Mệnh cũng Cự Nhật đồng cung chiếu:
Cũng được tốt đẹp như Cự, Nhật tọa thủ.
Cự Cơ ở Mão và Dậu:
Có quan chức lớn, tài lộc dồi dào (tại phú). Ở Dậu thì kém hơn ở Mão. Đặc biệt bôn tuổi Ất, Kỷ, Tân thì càng thịnh đạt và cả hai mặt phú và quí.
Nếu có thêm Đại, Tiểu, Hao:
Rất giàu có và uy quyền danh tiếng lừng lẫy, nhưng tính tình phóng đãng, ăn tiêu hoang phí.
Cự Khoa ở Thìn Tuất:
Có biệt tài về ăn nói, có khả năng du thuyết.
Tuổi Tân, Mệnh ở Tứ Mộ, Cự tọa thủ:
vẫn khá giả dù Cự hãm địa. Nếu thêm Tả, Hữu, tai họa bị chiết giảm đi nhiều, dù cho Hóa kỵ đồng cung.
NHỮNG BÔ SAO XẤU
Cự hãm, Kình, Đà:
Người yếu đuôi, bị bệnh nan y. Nếu không bệnh thì trộm cắp, đàng điếm, phá hoại, nữ thì lăng
loàn.
Cự Hỏa Linh:
Rất xấu, có thể bị chết thảm nếu hạn xấu.
Nếu thêm Kình hay Đà:
Có thể tự tử bằng cách tự trầm hay thắt cổ. Nếu không chân tay bị tàn tật, phỏng nặng.
Cự ở Tý Ngọ gặp Lộc Tồn đồng cung:
Có học, có tài nhưng bất đắc chí vì không gặp thời.
Cự ở Hợi Tý gặp Lộc Tồn đồng cung:
Không phát huy được tài năng, dù được Lộc Quyền hội họp. Đây là trường hợp một người có cao
vọng nhưng bất toại chí.
Nữ mệnh có Cự kỵ:
Con gái thì thất trinh, đàn bà thì thất tiết.
Cự Tham Hao:
Bị tù tội
8. Ý NGHĨA CỦA CƯ MÔN ở CẤC CUNG
Những bộ sao trên có giá trị và ý nghĩa khi tọa lạc ở hai cung Mệnh và Thân. Ớ các cung khác, Cự môn thường có nghĩa xấu.
TẮT
Cự Kỵ: chết đuôi (hay Cự Tham Riêu)
Cự Kình Hỏa đồng cung: bệnh do tửu sắc gây nên.
về mặt bệnh lý, Thái Thứ Lang cho rằng Cự môn ở Tật thì có bệnh ở hạ bộ, mặt thường có vết, lúc ít tuổi có nhiều mụn nhọt.
Ở DI
Cự Môn: bị khẩu thiệt, thị phi.
Cự, Hỏa, Linh: chết đường vì tai nạn nguy hiểm.
Nếu đắc địa, ra ngoài được vị nể, tín nhiệm, dễ kiếm tiền.
Ở NÔ
Cự Môn: tôi tớ, bạn bè hay nói xấu, oán trách.
Cự Môn ở hãm địa: bị phản bội.
Ở ĐIỀN
Cự Cơ ở Mão Dậu: rất nhiều nhà cửa.
Ở PHÚC
Cự Cơ: được hưởng phúc thọ, phú quí, họ hàng giàu có quí hiển.
Nếu Cự Hãm: giảm thọ, suốt đời chật vật, bất toại, hay mắc tai nạn, kiện tụng, tha phương cầu
thực.
Ở PHU
Cự Môn: cha mẹ bất hòa, dù Cự đắc hay hãm địa.
Tại Hợi, Tý, Ngọ: cha mẹ giàu nhưng khác tính vđi con.
Tại Tỵ: cha mẹ xa cách nhau, nếu không cha hay mẹ chết sđm.
Tại Thìn Tuất: cha mẹ bỏ nhau.
Tại Dần: cha mẹ giàu có, quí hiển, sông lâu. g) Ở PHU THÊ
Cự Môn ở Tý, Ngọ, Hợi: vỢ chồng đẹp đôi, quí hiển nhưng hay bất hòa.
Tại Thìn, Tuất, Tỵ: vỢ chồng bỏ nhau. Trai hay gái phải nhiều lần lập gia đình.
ì) Ở TỬ
Cự Cơ: có con dị bào, cùng mẹ khác cha.
Cự Phá, Quả: sát con. j) Ở TÀI
Tại Hợi, Tý, Ngọ: phát tài, tay trắng làm nên.
Tại Dần: giàu có lớn, dễ kiếm tiền. Ở Thân thì phải vất vả hơn nhiều.
Tại Thìn Tuất: tiền tài khi vô khi ra, bị mất của vì kiện tụng. (Như Cự Đồng đồng cung).
Cự Cơ: kinh doanh buôn bán nên rất giàu có. k) Ở QUAN
Tại Tý Ngọ: văn võ kiêm toàn. Có nhiều tài năng, nhất là khoa ăn nói, mứu trí, tài tổ chức, được người trọng vọng vì lời nói.
Tại Hợi: có công danh nhưng có cao vọng.
Tại Tỵ: công danh trắc trở, chức nhỏ, hay gặp nạn.
Tại Thìn Tuất: sự nghiệp về sau mđi phát. Có tài xét đoán, lý luận, nhưng thường bị thị phi, oán trách.
1) Ở HAN
Cự Kỵ: tai nạn dưới nước hay xe cộ.
Cự Môn: bị tai tiếng, kiện tụng.
Nếu sáng sủa: Cự là Quyền tinh, rất dễ thăng tiến, được tín nhiệm, có kiện tụng cũng thắng.
Riêng tại Hợi gặp Lộc,thì có nhiều tiền của nhưng có thể bị hao hụt nếu mứu đại sự.
Nếu xấu xa: bị thị phi, tai tiếng, hao tài, đau yếu, có tang, cá thể bị bãi chức và bị tai nạn xe cộ.
Nếu Đại Hạn cũng xấu thì chết.
Cự Tang Hỏa Linh: đau ôm, tán tài, có tang, có thể bị cháy nhà.
LIEM TRINH BẮC ĐẨU TINH. ẦM. HỎA
VI TRÍ CỦA LIÊM TRINH ở CẤC CUNG
Miếu địa : Thìn Tuất.
Vượng địa : Tý Ngọ, Dần, Thân.
Đắc địa : Sửu Mùi.
Hãm địa : Tỵ Hợi, Mão Dậu.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Sách vở không phân biệt tướng mạo của Liêm Trinh đắc địa hay hãm địa. Thái Thứ Lang cho rằng người có Liêm Trinh tọa thủ có “thân hình cao lớn, xương to và mắt lộ, mặt hơi dài, sớm có nếp nhăn, vẻ mặt không được tươi nhuận, mắt lồi, sáng, lông mày rậm, lộ hầu”.
Ý NGHĨA BÊNH LÝ
Liêm Trinh không chỉ danh bộ phận cơ thể nào nên ý nghĩa bệnh lý của sao này không rõ ràng
lắm.
Sách vở cho rằng Liêm Trinh đóng ở Tật thì bị tỳ vết ở chân tay hay ở lưng.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
NẾU LIÊM TRINH ĐAC đìa
về mặt tính tình, Liêm Trinh có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo những đặc tính trội yếu: Chính trực quan, Đào hoa tinh, Tù tinh. Do đó, những nét nổi bật là:
Sự ngay thẳng, chính trực, đứng đắn, thanh cao.
Sự liêm khiết.
Sự nóng nảy, ương ngạnh, nghiêm nghị, đôi khi khắc nghiệt (Liêm Trinh là sao Hỏa), cứng cỏi.
Can đảm, cương quyết, dũng mãnh.
Với đức tính nóng nảy, can đảm và dũng mãnh, Liêm Trinh là một trong bôn sao võ cách và hợp với Thất Sát, Phá Quân và Tham Lang thành bộ sao võ, nhất mạnh võ tính và võ nghiệp của đương
SÔ.
Có scf đào hoa. Liêm Trinh được gọi là sao Đào hoa thứ hai. Tuy nhiên, vì sự chính trực cô” hữu của Liêm Trinh, nên sao này ít có ý nghĩa sa đọa hơn sao Đào Hoa: Liêm Trinh chỉ có ý nghĩa như sức thu hút, quyến rũ đối với người khác phái, không bao hàm ý nghĩa lẳng lơ, hoa nguyệt bao nhiêu. Tuy nhiên, nếu Liêm Trinh đi đôi vđi Tham Lang chủ sự tham dục. Phái nữ gặp hai sao này thường bất lợi, nhất là nếu hãm địa.
NẾU LIÊM TRINH HÃM ĐIA
Khắc nghiệt, nóng nảy.
Ngoan cô”, ương ngạnh.
Thâm hiểm, ti tiện, ác tính, lòng lang dạ thú.
Có óc kinh doanh.
Khéo tay, giỏi về thủ công nghệ.
Thích đua chen, ganh tị.
(Không thấy nói đến đào hoa tính hay dâm tính của Liêm Trinh hãm địa).
Ý NGHĨA CỐNG DANH. TÀI LỐC. PHÚC THO
NẾU LIÊM TRINH ĐAC đìa
Đương sự được phú quí và thọ. Đặc biệt có tài kiêm nhiếp cả văn võ, rất thao lược và quyền biến. Nếu được thêm Xương Khúc đồng cung thì là bậc anh hùng.
NẾU LIÊM TRINH HÃM ĐIA Những bất lợi rất nhiều
Suốt đời lận đận.
Bị nhiều bệnh tật, sức khỏe suy kém.
Hay bị tai nạn.
Phải ly tổ lập nghiệp.
Giảm thọ.
Đặc biệt vì Liêm Trinh là Tù tinh cho nên khó tránh họa ngục hình, nếu đi đôi vđi sao dữ, có thể chết the thảm. Các sao này là Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh, Kỵ, Hình. Không cần phải hội đủ các sát tinh mà thường chỉ cần một hay hai sao nói trên cũng bị ngục hình. Phái nữ thì khắc chồng hại con, bệnh tật, chết dữ, chưa kể sự lăng loàn hoa nguyệt.
Ý NGHĨA CỦA LIÊM TRINH VẰ MỐT sổ SAO KHẮC
NHỮNG BÔ SAO TốT
Liêm, Tưởng: dũng mãnh, oai quyền, danh giá, thường là quân nhân. Thiên Tưđng đi vđi Liêm Trinh rất lợi vì có tác dụng khắc chế nóng tính của sao Liêm.
Liêm, Hồng, Khôi, xương, Khúc: mứu sĩ giỏi, đắc dụng.
Liêm xương Khúc: có tài thao lược, quyền biến.
Liêm Hình đắc địa: quan võ giỏi, thẩm phán sắc. Nhưng cách này rất dễ bị hình tù vì cả hai sao đều chủ về tù tội.
NHỮNG BÔ SAO XẤU
Liêm Phá Hỏa hãm địa: tự tử (thắt cổ, tự trầm, uổng độc dược, thuốc ngủ), trong đời chắc chắn có lần tự tử.
Liêm Phá Kỵ Tham: chết cháy.
Liêm Kiếp Kình ở Mão Dậu: bị hình tù, bị ám sát (cũng như Liêm Kình Đà Hỏa Linh).
Liêm Kiếp ở Tỵ HỢ: tự ải trong tù.
Những bộ sao nói trên đều có ý nghĩa tương tợ nhau. Tất cả đều báo hiểu sự tự tử, tai nạn đao thương, và ngục tù: không bị tai nạn này tất phải bị nạn kia. Cho nên Liêm Trinh là một sao tối nguy hiểm nếu đi vđi sát tinh mà thiếu sao giải.
Ý NGHĨA LIÊM TRINH ở CẤC CUNG
a) Ở PHU THÊ
Hầu hết các vị trí đều bất lợi cho gia đạo. Sự bất lợi này thể hiện qua:
Việc muộn lập gia đình. Trường hợp gặp Thiên Phủ đồng cung thì vỢ chồng đều cứng cỏi, danh giá, sung túc, nhưng, cũng phải muộn gia đạo mđi tốt.
Lập gia đình nhiều lần (ở Dần Thân hoặc Tham, hoặc Sát, hoặc Phá, hoặc Tưđng đồng cung).
Lấy vỢ, chồng nghèo.
Bị hình khác gia đạo nếu gặp Sát, Phá, Tham hay Tướng.
Tại cung Phu Thê, Liêm Trinh bất lợi về gia đạo như các sao Phá Quân, Thất Sát, Tham Lang, cả bôn sao võ cách đều không thích hợp vđi cung Phu Thê. Đặc biệt là đốì với phái nữ (cung Phu).
b )ỞTỬ
Đặc tính chung của Liêm Trinh tại cung Tử là:
Sự chậm con.
Sự ít con (trừ phi đồng cung vđi Phủ).
Sự sát con (trường hợp gặp Sát, Phá).
Sự khó nuôi con (trường hợp gặp Tướng, Phá, Sát, Tham đồng cung).
Con không hiển đạt (nếu gặp Phá, Sát, Tham), trừ lệ đối với Phủ và Tưđng đồng cung.
Ở TÀI
Rất tốt khi gặp Phủ hay Tướng đồng cung (giàu có lớn, giữ được của).
Tốt nếu Liêm Trinh ở Dần Thân: phải cạnh tranh mới được tiền, làm giàu chậm mà chắc chắn.
Với các sao khác, đặc biệt là Sát, Phá, Tham đồng cung thì:
Hoặc thất thường (Sát đồng cung).
Hoặc tiền bạc đi liền vđi tai ương (Phá đồng cung).
Hoặc túng bấn, khổ vì tiền, bị kiện vì tiền (Tham đồng cung).
Ở TẤT
Xem mục 5b và 6b.
Đại cương có nhiều hiểm nguy vì hình ngục, tai nạn hay tự tử, ám sát, yểu chết.
Ở DI
Rất tốì nếu đơn thủ ở Dần Thân, hoặc đồng cung với Phủ hay Tướng: được quí nhân giúp đỡ, được kẻ dưới trọng vọng, tài lộc dễ kiếm, có danh giá, trấn áp được tiểu nhân (Tướng đồng cung).
Kỳ dư, rất bất lợi vì:
May rủi đi liền vđi nhau (Phá đồng cung).
Gặp nhiều tai nạn gươm đao (Sát đồng cung).
Bị hình tù, ám hại (Tham đồng cung)
Ở NÔ
Thường hay bị nói xấu, làm ơn nên oán.
Ở QUAN
Rất tốt vì Liêm Trinh rất hợp vđi Quan Lộc tại Dần Thân, hoặc đồng cung vđi Phủ hay Tưđng: võ nghiệp vinh danh, kiêm nhiếp cả chính trị, có uy quyền, được người kính nể.
Với các sao khác thì:
Thăng giáng thất thường và chậm thăng, chậm công danh (Sát đồng cung), may rủi liền nhau. Nếu bỏ quan trường thiên về kinh doanh, kỹ nghệ thì tốt hơn.
Bất toại chí trong quan trường (Phá đồng cung).
Công dân thấp, bị hình ngục (Tham đồng cung)
Ở ĐIỀN
Có hai trường hợp bất lợi.
Ở Dần Thân.
Tham đồng cung.
Tổ nghiệp di sản bị phá tán hoặc không được hưởng, rất bực mình vì điền sản, về già cũng không có nhà ở cô” định.
Đối vđi các trường hợp khác thì:
Hoặc được hưởng của di sảm mà không giữ được (trường hợp Phủ đồng cung).
Hoặc tự lập, vất vả ban đầu, sau mới khá giả (Sát hay Phá đồng cung).
Hoặc nhà đất trước ít, sau nhiều (Tướng đồng cung).
Nói chung, Liêm Trinh nói lên sự khó khăn buổi đầu, có lẽ vì đây là Bắc đẩu tinh, ảnh hưởng xấu trong buổi ban đầu, ôn hòa hơn về sau.
Ở PHU
Đồng cung với Phủ hay Tướng thì cha mẹ khá giả.
Kỳ dư, có những khía cạnh bất lợi sau:
Cha mẹ nghèo (ở Dần Thân, Tham đồng cung).
Mồ côi sớm (Sát, Tham đồng cung).
Khắc cha mẹ (ở Dần Thân, Phá đồng cung).
Cha mẹ tị tai nạn (Phá, Tham đồng cung). j) Ở HAN
Liêm Tham Tỵ Hợi: bị tù hình. Gặp Hóa kỵ hay Tuần Triệt thì giải được.
Liêm Tham Sát Phá: bị đau, bị oán trách.
Liêm Phá đồng cung bị Kiếp Kình: kiện, tù, ám sát.
Liêm Kình hay Đà: rủi ro nhiều, ưu tư lắm.
Liêm Hinh, Kỵ, Kình hay Đà: bị ám sát, lưu huyết thanh toán.
PHÁ QUÂN BẮC ĐẨU TINH. ÂM. THỦY 1. VI TRÍ CỦA PHÁ QUÂN ở CẤC CUNG
Miếu địa : Tý Ngọ.
Vượng địa : Sửu Mùi.
Đắc địa : Thìn Tuất.
Hãm địa : Mão Dậu, Dần Thân, Tỵ Hợi.
Phá quân là hung tinh và hao tinh, thích hợp vđi nam giđi hơn nà nữ giới. Nói chung, nữ giới gặp sao này thường bị những bất trắc về tình duyên, gia đạo bị Phá quân chủ về phu thê, hao tán.
Mặt khác, Phá quân là sao võ cách, thích hợp vđi người có võ tính, cương tính. Đi vđi phụ nữ thì cũng không hay.
Ý NGHĨA Cơ THỂ
Phá quân không chỉ một bộ phận nào trong cơ thể.
Tuy nhiên, vì là sao hao nên Phá quân có nhiều ý nghĩa về bệnh lý khi đi song vđi các sao cơ thể
khác.
LÝ NGHĨA BÊNH LÝ
Tọa thủ ở cung Tật, Phá quân có nghĩa máu nóng, hay bị mụn nhọt, ghẻ lở.
Phá hao Mốc ky: có ung thư, nếu không cũng phải mắc bệnh cần phải mổ xẻ mới qua khỏi
được.
Phá Riêu Hổng: bệnh mộng tinh.
Phá Hỏa, nhất là ở cung Ngọ: rối trí, điên.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
Theo Thái Thứ Lang, người có Phá quân thủ mệnh thì (thân hình đẫy đà, cao vừa tầm, da hồng hào, mặt đầy đặn, mắt lộ, hầu lộ, lông mày thưa).
Nếu hãm địa hay đắc địa thì hơi thấp.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
PHÁ QUẦN MIẾU. VƯƠNG VÀ ĐAC đìa
Thông minh.
Cương nghi, quả cảm.
Tự đắc, hiếu thắng, ưa nịnh hót.
Có thủ đoan, yếm trá, đa mứu.
Có can đảm, dũng mãnh.
Ham hoat đông, thích đi xa, ham săn bắn.
PHÁ HÃM ĐIA
Ương ngạnh, ngoan cô”, ngỗ ngược.
Hiếu thắng.
Hung tợn, hồ đồ, bạo tính.
Nham hiểm, bất nhân.
Có óc kinh doanh.
Khéo tay. Đàn bà thì dâm dât, đôc ác, lăng loàn.
Đây là một sao của dũng sĩ, của quân nhân ham hoạt động, hay đua chen, tranh cạnh, thích hợp vđi nghiệp võ (cùng với Liêm, Sát, Tham). Vì vậy, đốì vđi phụ nữ, sao này không hợp cách.
Đắc địa mà đi vđi hung tinh, sát tinh, các đặc tính tốt và xấu kể trên càng thêm sâu sắc. Thông thường, Phá quân lại thích hợp với các hung, sát tinh đắc địa.
Ý NGHĨA CỐNG DANH. TÀI LỐC
Nói chung, Phá quân dù đắc địa, cũng còn bản chất phá tán, tiêu hao, nên dù cho có ý nghĩa tốt, cái tốt đó cũng thăng trầm, không lâu bềnh.
Vì vậy, Phá quân đắc địa thì được giàu sang, nhưng thường gặp nhiều thăng trầm thất thường, khi được, khi mất. Riêng đối với các tuổi Đinh, Kỷ, Quí, Phá quân lại tốt: có phú quí song toàn, có uy quyền hiển hách. Còn đốì với những tuổi Bính, Mậu, Dần, Thân, Phá quân miếu địa tuy có hay, nhưng hay mắc tai họa.
Cái tốt của Phá quân, tự nó không vẹn toàn, vẫn phải lệ thuộc vào những tuổi nhất định và có thêm cát tính hội tụ hoặc sát tinh đắc địa đi kèm. Đây là 1 chính diệu kém tác dụng nhất trong các chính diệu.
Các sao hđp với Phá quân miếu đỉa gồm có:
Cát tinh (Xương Khúc, Tả Hữu, Tam Hóa).
Sát tinh đắc địa (Kình, Đà, Không, Kiếp).
Các sao phá hoai Phá quân miếu đỉa gồm có:
Sát tinh hãm địa.
Đại, Tiểu hao, Hồ, Kỵ, Hình
d) Nếu Phá quân hãm địa gặp sát tinh đắc địa thì được giàu sang, nhưng chóng tà hay bị tai họa. Ngoài ra, Phá quân hãm địa ở một sô” vị trí nào thì đỡ nhẹ cho những tuổi nhất định:
Phá hãm ở Mão Dậu, hợp với tuổi Ất, Tân, Quý.
Phá hãm ở Dần, Thân, hợp vđi tuổi Giáp, Đinh, Kỷ.
Trong ba trường hợp này thì đỡ lo về tai họa và tương đốì khá giả.
Các sao giải những bất lợi cho Phá quân hãm địa gồm có: Hóa khoa, Tuần, Triệt, Nguyệt đức.
Tóm lại, Phá quân là sao phức tạp, cần phải phân biệt cho tế nhị để có thể luận đoán chính xác.
Ý NGHĨA PHÚC THO. TAI HOA
Dựa trên sự phôi hợp vđi sao và tuổi kể trên, sẽ ưđc đoán phúc thọ cho tai họa.
Thông thường, ý nghĩa tai họa nhẹ nhất, dù là Phá miếu địa, là sự thăm trầm, thất thường của công danh tài lộc.
Riêng các trường hợp kể ở mực 6 – a, b, c, d, phúc thọ, tai họa sẽ được cân nhắc theo đó.
Chỉ riêng trường hợp Phá miếu địa được cát tinh hỗ trợ và sát tinh đắc địa hội chiếu thì mới tốt.
Còn đốì vđi các trường hợp 6 – b, c thì hay mắc nạn, bị tù hình, giảm thọ, bị bịnh hoạn kho chữa, nghèo hèn, cô độc, phiêu bạt, chết thảm. Cái tốt không nhiều, cái xấu thì nhiều và rất nặng. Các sao kể trên hầu như chỉ giảm thiểu một phần nào mà thôi.
Ý NGHĨA PHÁ QUÂN VẰ MỐT sổ SAO KHẮC
Các cách tốt của Phá quân với sao khác tương đối ít:
Phá ở Tứ Mộ gặp Hình Lộc: uy quyền lđn, danh cao.
Phá, phá toái đồng cung: tiếng tăm lừng lẫy.
Phá, Khoa, Tuần, Triệt ở Thìn Tuất: thẳng thắng lương thiện. Nếu thêm cả Nguyệt đức càng
tốt.
Các các xấu của Phá quân rất nhiều:
Phá ở Tý Ngọ: sđm xa cách anh em, cha mẹ, nếu không cũng khác vỢ, chồng hoặc hiếm con, nhất là đốì với phái nữ.
Phá Tham Lộc Mã: trai đàng điếm, gái dâm dật. cả hai đều vô hạnh, tuy có duy dả tiền bạc.
Phá Cái Đào: rất dâm dục, sát chồng, lăng loàn.
Phá Hỏa: phá sản, bán sạch tổ nghiệp.
Phá Hỏa Hao: bị tai nạn khủng khiếp. Nếu têm Việt Hình thì chắc chắn chế thê thảm vì súng
đạn.
Phá Kình, Tả Hữu ở Mão Dậu: người hết sức độc ác, đa sát, làm loạn thiên hạ, giết người không gớm tay.
Phá, Phục, Hình, Riêu, Tưởng quân: vỢ chồng ghen tuông đi đến chỗ giết nhau.
Phá, Triệt, Cô: chết đường, bất đắc kỳ tử.
Ý NGHĨA PHÁ QUÂN ở CẮC CUNG
Ở BÀO
Hiếm anh em, anh em bất hòa, xa cách nhau nếu Phá ở Tý Ngọ.
Càng hiếm hơn và anh em ly tán hoặc có tật và bất hòa, nếu Phá ở Thìn Tuất, Dần Thân hay đồng cung vđi Tử, Liêm, Vũ.
Ở PHU THÊ
Phá quân thường chủ sự hao tán phu thê. Vợ ghen, chồng bất nghĩa.
Vợ chồng khá giả tuy chậm phu thê và có thể có lần xa cách nhau nếu ở Phá ở Tý Ngọ.
Hình khắc, vì vỢ lăng loàn vì chồng bất nghĩa nếu Phá ở Dần Thân, hình khắc nếu đồng cung vđi Tử.
Muộn phu thê hoặc phải chắp nốì hai ba lần, nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung vđi Vũ.
Bất hòa, xa cách, nghèo khó, nếu Phá đồng cung với Liêm, c )ỞTỬ
Thông thường có nghĩa hiếm con, xung khắc với cha mẹ dù ở cung nào và đi với sao nào cũng vậy.
Ở TÀI
Giàu có dễ dàng bằng kinh doanh táo bạo, nếu Phá ở Tý Ngọ.
Tiền bạc vô ra bất thường nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Liêm.
Chật vật buổi đầu, về sau sung túc nếu Phá đồng cung với Tử hay Vũ.
Khó kiếm tiền, thu ít, chi nhiều nếu Phá ở Dần, Thân.
Dù sao cần cân nhắc chung với các sao khác.
Ở DI
Được xã hội trọng nể, dễ kiếm tiền, nhưng đôi khi mắc nạn nguy hiểm, nếu Phá ở Tý, Ngọ.
May rủi liền nhau, quí nhân và tiểu nhân đều có, nhiều ta ương, chết xa nhà nếu Phá ở Thìn
Tuất.
Ra ngoài gặp quí nhân, chết xa nhà nếu Phá đồng cung với Tử.
Ra ngoài may ít rủi nhiều, chết xa nhà nếu Phá, Liêm, Vũ đồng cung.
Hay bị tai nạn xe cộ, vì người ám hại, chết xa nhà, nếu Phá đơn thủ ở Dần Thân.
Ở QUAN
Văn võ kiêm toàn, có quyền thế, đa mứu, hay át quyền nếu Phá ở Thìn Tuất.
Thành công trong nghiệp võ, nhưng thất thường, lập thân trong thời chiến, gặp nhiều việc khó, nguy nhưng thành công, đa mứu, can đảm nếu Phá ở Tý, Ngọ hoặc đồng cung ở Tử – Vi.
Quân nhân chật vật, chức nhỏ, nhưng nếu buôn bán thì đắc lợi nếu Phá ở Dần Thân hoặc đồng cung với Vũ, Liêm.
Ở ĐIỀN
Không có điền sản nếu Phá ở Dần Thân.
Có sản nghiệp buổi đầu rồi phá tan, về sau mới giữ của được nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Tử, Liêm, Vũ.
Mua nhà đất rất nhanh chóng, nhưng cơ nghiệp sa sút về già, không giữ được di sản, nếu Phá ở Tý Ngọ.
Ở PHÚC
Nói chung, Phá ở Phúc đều có nghĩa họ hàng ly tán, và riêng mình phải tha phương lập nghiệp.
Nếu Phá ở Tý Ngọ thì được phúc, sông lâu, ở Thìn Tuất thì riêng mình không có phúc nhiều, nhưng họ hàng quí hiển, ở Dần Thân thì kém phúc, bị họa, họ hàng sa sút, nếu đồng cung với Tử, Liêm hay Vũ thì vất vả, lao khổ, xa quê mới sông lâu.
Ở PHU
Chủ về hao tán, Phá ở vị trí nào cũng sớm mất cha hay mẹ, ít ra hai người xa cách hoặc bất hòa.
Chỉ trong trường hợp Phá ở Tý Ngọ và đồng cung vđi Tử – Vi thì cha mẹ khá giả, kỳ dư thì không
tốt.
j) Ở HAN
Nếu Phá sáng sủa thì gặp tài, danh thành đạt. Ngược lại, nếu hãm thì rất nhiều tai họa (tội, tang, mất chức, bệnh).
Phá, TuếKỵ: lo âu, bực dọc vì cạnh tranh, kiện cáo.
Phá Liêm Hỏa: phá sản, bị tù, có thể chết.
Phá, Việt, Linh, Hình: bị súng đạn.
Phá, Tưởng, Binh, Thai, Riêu: bị phụ tình, đàn bà thì bị lừa gạt, thất trinh, thất tiết.
THAM LANG BẮC ĐẨU TINH. ÂM. THÙY ĐỚI KIM
VI TRÍ CỦA THAM LANG ở CẤC CUNG
Miếu địa : Sửu Mùi.
Vượng địa : Thìn Tuất.
Đắc địa : Dần Thân.
Hãm Địa : Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Ý NGHĨA Cơ THỂ
Tham lang là cái nách.
Nếu gặp Hóa kỵ: hôi nách.
Ý NGHĨA TƯỚNG MAO
NẾU THAM LANG ĐAC đìa
Đương sự có thân hình cao lớn, vạm vỡ, da trắng, mặt đầy đặn, nhiều lông, tóc, râu rậm rạp.
Riêng trường hợp miếu địa, có nốt ruồi kín.
NẾU THAM LANG HÃM ĐIA
Thân hình cao vừa tâm, hơi gầy, da thô, xấu, mặt dài nhưng không đầy đặn, tiếng nói vang, cổ cao.
Ý NGHĨA BÊNH LÝ
Bệnh tật chỉ có khi gặp Tham Lang hãm địa: sức khỏe kém, nhiều bệnh, ở mất, ở bô máy tiêu hóa, hoặc ở bộ phận sinh duc.
Nếu đi cùng với các sao xấu, nhất là Sát tinh, Hóa kỵ, Thiên hình, các loại bệnh nói trên càng thêm chắc chắn.
Tham ở Dần Thân: bệnh ở chân.
Tham Đà ở Dần Thân: ăn uổng sinh bệnh khó chữa.
Tham ở Tý Ngọ: chơi bời mắc bệnh.
Tham Kỵ đồng cung: bị thủy tai, chết đuối.
Tham Riêu: bệnh phong tình, bị thủy tai.
Ý NGHĨA TÍNH TÌNH
Nói chung, hai ý nghĩa nổi bật nhất là lòng tham dục (hiểu theo nhiều nghĩa) và số đào hoa, a) NẾU THAM LANG ĐAC đìa
Khá thông minh.
Trung hậu.
Hiếu thắng, tự đắc.
Ưa hoạt động.
Có óc kinh doanh, có tài tổ chức.
Lòng tham dục vô bờ bến hay mưu tính những chuyện to lớn.
Nóng nảy, làm gì cũng muôn chóng xong, nhưng chỉ chuyên cần siêng năng buổi đầu, rồi về sau sinh lười biếng chán nản, bỏ dở. Tánh bất nhất.
Thích ăn ngon mặc đẹp, chơi bời cho thỏa chí. Tham lang vổn là sao đào hoa, sao đào hoa và sao dâm dục. Nếu kèm thêm các Riêu, Mộc, Cái, Đào, Hồng thì đó là hạng play boy, play girl rất hỗn tạp.
b) NẾU THAM LANG HÃM ĐIA
Gian hiểm, dối trá, ích kỷ, hiểm độc.
Tham lam, có nhiều dục vọng, hay ghen tuông.
Không quả quyết, không bền chí, yếm thế (Mão Dậu).
Hay chơi bời, se sua, sa đọa, dễ động tình, dâm dật, hay lăng loàn, đối vđi cả nam lẫn nữ.
Riêng đối vđi phụ nữ, người có Tham lang hãm địa rất dễ sa ngã, hư đôn, có chồng mà còn đa mang, ngoại tình. Đi kèm vđi các sao ái tình hay dâm dục khác như Liêm, Đào, Hồng, Mộc, Cái, Riêu, Kỵ, thì rất có thể là gái giang hồ, hoặc ít nhất tính nết hết sức dâm dãng, bạc tình.
Ngoài ra, vì đặc tính tham dục của Tham lang, nên người nào có sao này thủ mệnh thường là kẻ gian, xấu máu về tiền bạc, tửu sắc, quyền hành. Đó là một nết căn bản của tham nhũng, bất hạnh, trộm cắp, gian giảo, đê tiện, hạ cách.
Ý NGHĨA TÀI LỐC. CỐNG DANH
NẾU THAM LANG ĐAC đìa trở lên thì giàu sang.
Nhưng vì Tham lang là sao Bắc đẩu nên càng già càng thịnh vượng, an nhà, sung sướng.
Nếu có thêm cát tinh, thì mức tài lộc, công danh tăng. Nếu đồng cung với Kỵ thì buôn bán mà giàu
có.
NÊU THAM LANG HÃM ĐIA: người ấy có óc kinh doanh thường chuyên mỹ nghệ, thương mại, thủ công, nhưng tài lộc, công danh chật vật.
Nhưng dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kỵ hay Riêu đồng cung, thường bi giam cẩm (nếu thiếu sao giải) hoặc hay bị tai nạn sông nưđc.
Ý NGHĨA PHÚC THO. TAI HOA
Nói chung, Tham lang đi cùng với ác tinh, sát tinh là phá ách, tai họa nhiều thêm.
Đắc địa thì sông lâu, dù thiếu thời có vất vả. Nếu hãm địa, ắt nhiều bệnh, hay bị giam cầm nếu không bỏ quê hương cầu thực thì yếu, cô độc.
Riêng Tham lang ở Mão Dậu là người yếm thế, làm việc gì cũng thất bại và hay gặp sự chẳng lành. Người này chỉ có chí hưđng đi tu. Nếu gặp thêm sát tinh hay Kỵ, Hình thì hay bị nạn khủng khiếp, giam cầm và yểu tử.
Ý NGHĨA CỦA THAM LANG VẰ MỐT sổ SAO KHẮC
a) CÁC CÁCH TỐT
Tham Hỏa đồng cung miếu địa hay Tham Linh đồng cung miếu địa: phú quí tột bực, danh tiếng lừng lẫy. Rất hiển đạt về võ nghiệp. Rất tốt cho hai tuổi Mậu Kỷ vì ứng hợp vđi cách này.
Tham Sinh ở Dần Thân: sông rất lâu.
Tham Vũ đồng cung ở Tứ mộ: phát phúc và giàu sang từ 30 tuổi trở đi, nhưng phải có thêm cát tinh nhiều ở Mệnh. Nếu thêm cả Hỏa Linh thì rất quí hiển.
Nhưng nếu cung Thân ở Tứ mộ có Tham Vũ thì lại là hạ cách, không quí hiển được, nhất là thiết cát tinh.
Các cách trên nếu có thêm sao tốt như Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Tả, Hữu thì rất tốt cả về công danh, tài lộc, phúc thọ, tâm tính.
CÁC CÁCH XẤU
Tham Vũ đồng cung gặp Phá quân: lụy thân vì sa đọa tửu, sắc.
Tham Liêm đồng cung ở Tỵ, Hợi: con trai đàng điếm, du đãng, con gái dâm dật đĩ thõa, giang
hồ.
Chỉ có sao Hóa Kỵ hay Tuần Triệt mđi hóa giải được bất lợi này.
Tham Liêm ở Dần Thân gặp Văn xương đồng cung: phải có phen bị tù hình khổ sở (nếu thiếu sao giải).
Tham Liêm Tuyệt Linh đồng cung: suốt đời cùng khổ, hoặc chết non.
Tham Liêm Kình Kiếp Không, Hư Mã: như trên.
Tham gặp sát tinh (thiếu cát tinh): hạ cách (đồ tể, hàng thịt, trộm cắp, gian lận vô dụng), đàn bà thì dâm dật, đĩ thõa, suốt đời nghèo khổ (ăn mày).
Tham Kình (hay Đà đồng cung) ở Tý Hợi: giang hồ, lãng tử, chơi bời lang thang hay hoang
đàng.
Tham, Thất Sát: trai trộm cướp, gái giang hồ, nếu thêm hung tinh thì nguy hiểm càng tăng.
Tham Sát Tang HỔ ở Dần, Ngọ: bị sét đánh, thú cắn.
Tham Không Kiếp ở Mão Dậu: đi tu phá giới.
Tham Đào, Tham Hồng hay Tham Liêm: dâm đãng, lăng loàn. (Nếu gặp Tuần Triệt thì đoan chính).
CÀI BIÊT CÁCH
Tham, vượng, Quyền, ở Hợi Tý: rất giàu sang, nhất là đốì với hai tuổi Giáp, Kỷ.
Tham Kỵ ở Tứ mộ: buôn bán đa đoan, xuôi ngược nhưng rất giàu.
9. Ý NGHĨA THAM LANG ở CẮC CUNG
CUNG MÊNH có Tham ở Tứ Tuyết (Tý Ngọ Mão Dậu)
TUỔI
CUNG AN MỆNH

Thân Tý Thìn

Dần Ngọ Tuất
Ngọ
Hợi Mão Mùi
Mão
Tỵ Dậu Sửu
Dậu
Ở PHU THÊ
Thông thường, vỢ là trưởng nữ, tính hay ghen.
Nếu ở Thìn Tuất, vỢ hay chồng tài giỏi, giàu sang, nhưng gái thì ghen, chồng thì ăn chơi. Có thể hình khắc nếu lập gia đình sđm.
Nếu ở Dần Thân, vỢ hay chồng ghen tuông, dâm đãng và bạc tình, hôn nhân rất chóng thành nhưng cũng dễ rã.
Đồng cung vđi Tử – Vi thì tốt nếu muộn gia đạo.
Đi với Liêm Trinh thì gia đạo hình khắc, dễ lấy, dễ bỏ, chồng nghèo hay có lần phải bị hình tù.
Đồng cung vđi Vũ khúc thì muộn gia đạo, hoặc phải lấy người lớn tuổi hơn nhiều, vỢ chồng tháo vát nhưng có thể hình khắc nếu sớm hôn nhân.
Ở TÀI
Nếu ở Thìn Tuất thì chóng phát đạt, nhất là về già.
Cùng với Vũ khúc thì chỉ phát được lúc già, sau 30 tuổi.
Đồng cung vđi Tử – Vi thì tầm thường.
Đồng cung với Liêm Trinh hoặc Tham ở Tý Ngọ thì túng thiếu. Riêng vđi Liêm thì âu lo về sinh kế, phải bị tai họa về tiền bạc (tù, kiện tụng).
Ở DI
Chỉ tốt ở Thìn Tuất: sinh kế dễ dàng nhờ gặp quí nhân. Kỳ sư vđi các sao khác như Tử – Vi, Liêm Trinh thì bất lợi hay bị tai nạn vì kiện tụng, tù tội, tiểu nhân. Ở Tý Ngọ và Dần Thân cũng không hay.
Đặc biệt vđi Vũ Khúc thì phát tài nhờ buôn bán, đương sự là phú thương.
Ở QUAN
Ở Tý Ngọ Dần Thân, thường là quân nhân, chức vị tầm thường, công danh nhỏ thấp, thất thường. Ở Tý Ngọ thì tham nhũng. Nếu buôn bán thì lại thịnh vượng.
Đồng cung vđi Liêm Trinh thì cũng là võ nghiệp nhưng thấy kém lại hay bị hình tù.
Cùng vđi Tử – Vi thì bình thường.
Nếu đồng cung với Vũ Khúc thì là doanh thương đắc phú, nhất là về hậu vận. Làm viên chức thì không bền.
Ở PHÚC
Ở Thìn Tuất và đặc biệt đi vđi Vũ khúc thì tốt đẹp, hưởng phúc thọ, nhất và về già. Họ hàng cũng hiển vinh, nhất là nghiệp võ hay buôn bán, thường tha phương lập nghiệp. Còn ở Dần Thân, Tý Ngọ, đồng cung với Tử – Vi thì kém và bạc phúc, giòng họ ly tán, sa sút, có khi dâm đãng. Riêng với Liêm Trinh thì nhất định yểu, tai họa vì hình tù kiện tụng truyền kiếp, họ hàng ly tán, cơ hàn.
g )ỞTỬ
Đặc biệt Tham Lang ít hợp tới Tử tức. Cho dù ở Thìn Tuất cũng không đẹp vì con bất mục và xung khắc. Ớ các cung khác thì hư hỏng, phá của, muộn con.
h) Ở HAN
Nếu Tham nhập hạn ở Tứ Mộ thì hoạnh phát tài danh, nhất là khi có thêm Linh Hỏa hội chiếu.
Tham Vũ Lộc Mã: được nhiều tiền và có danh chức.
Tham Hồng Đào: lập gia đình.
Nếu Tham hãm địa vì hao tiền, phóng đãng, có thể bị tù hay họa. Gặp thêm sát tinh càng thêm nguy kịch.

[ Lá số tử vi ] luận về con cái

Nếu nói xem tử vi là dễ thì chắc là ai cũng là “Thầy” cả rồi. Tinh hoa của tử vi còn nằm trong sự kết hợp giữa các cung, nhờ cung này mà có thể đoán được hưng thịnh của các cung khác…

Tuy nhiên, nếu bạn muốn biết Cung tử tức của mình thế nào, hãy học các luận điểm đơn giản nhất, dễ hiểu nhất ở bài này:

1. Cách tử tức qua các sao:
a. Chính tinh: hầu hết các chính tinh đắc địa trở lên đều có nghĩa là có con. Vì vậy, dưới đây là danh sách các sao chỉ cách hiếm muộn con cái:
– Vũ Khúc
– Vũ Khúc, Thất Sát
– Vũ Khúc, Thiên Tướng
– Thất Sát ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ
– Thất Sát, Liêm Trinh
– Tham Lang ở Tý, Ngọ
– Phá Quân
– Phá Quân, Liêm Trinh
– Thiên Đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi
– Thiên Đồng, Thái Âm ở Ngọ
b. Các phụ tinh:
Thai: có sao này ở Mệnh, Thân, Tử thì khỏi lo tuyệt tự. Tuy nhiên, sao Thai chỉ khả năng có con chứ không hẳn có nghĩa là nuôi được đứa con đó.
Mộc Dục: chỉ sự thụ thai và sinh nở nhiều, ý nghĩa rõ hơn sao Thai.
Long Trì, Phượng Các – Thanh Long: chỉ có con và sinh nở được vuông tròn. Con sinh ra lại đẹp đẽ, dĩnh ngộ.
Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú con, cụ thể là có nhiều con trai.
Ngoài ra, một số sao khác có ý nghĩa tử tức một cách gián tiếp hơn, chỉ sự may mắn, sự sớm con nói chung: Nguyệt Đức, Thiên Đức – Long Đức, Phúc Đức – Thiên Quan, Thiên Phúc – Tả Phù, Hữu Bật – Dưỡng – Thiên Hỷ, Hỷ Thần – Thiên Mã, Tràng Sinh – Thanh Long, Lưu Hà. Những sao này chỉ xác nhận thêm triển vọng sinh nở vuông tròn, suôn sẻ khi đi chung với sao tử tức kể trên.

2. Cách sinh trai, gái:
a. Vấn đề trai nhiều hay gái nhiều trong số con:
Gặp Tiểu vận mà có sao Thai và những hỷ tinh như Hồng Đào Hỷ, Sát Phá Liêm Đào, Nhật, Nguyệt, thì có tin mừng sinh con. Sao Thai là quan trọng nhất.
Tuy nhiên, không có sao Thai ở Tiểu Vận. Sao Thai có thể đóng ở Đại vận, hay ở Nguyệt Vận. Vậy ta cộng chung các sao ở Đại Vận, Tiểu Vận, Nguyệt Vận , thấy có sao Thai và các bộ Hỷ tinh thì đó có thể vận tốt sinh con. Tuy nhiên, ở Đại vận và Tiểu vận mạnh hơn là ở Nguyệt Vận.
Có thể phân định trai nhiều hay gái nhiều bằng sự hiện diện của chính tinh tại cung Tử-Tức là Nam đẩu tinh hay Bắc đẩu tinh
Khi nào cung Tử có sao nam đẩu tọa thủ thì có con trai nhiều hơn con gái. Có 7 sao nam đẩu: Thiên Phủ, Thiên Cơ, Thiên Tướng, Thái Dương, Thiên Lương, Thất Sát, Thiên Đồng.
Khi nào cung Tử có sao bắc đẩu tọa thủ thì có con gái nhiều hơn con trai. Có 6 sao bắc đẩu: Cự Môn, Tham Lang, Thái Âm, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân.
Trong trường hợp cung Tử có cả nam, bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào âm dương tính của cung Tử mà xét. Nếu cung Tử ở dương cung thì trai nhiều hơn, ở âm cung thì gái nhiều hơn. Riêng sao Tử Vi vừa là nam đẩu vừa là bắc đẩu nên nếu đi chung với nam đẩu thì trai nhiều hơn, với bắc đẩu thì gái nhiều hơn.
Trong trường hợp cung Tử vô chính diệu thì căn cứ vào chính tinh xung chiếu để tính: nam đẩu là trai, bắc đẩu là gái. Nếu có cả nam, bắc đẩu đồng cung xung chiếu vào cung Tử thì tùy theo cung Tử là dương thì trai nhiều, âm là gái nhiều.
b. Vấn đề tiên đoán sinh trai, gái vào năm sinh nở:
Nếu năm sinh nở rơi nhằm cung có nam đẩu thì sinh trai, có bắc đẩu thì sinh gái. Nếu có cả nam bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào dương cung của năm sinh để đoán trai, âm cung để đoán gái. Nếu năm sinh rơi vào vô chính diệu thì dựa theo trường hợp vô chính diệu ở đoạn trên mà tính.
c. Tuần, Triệt và vấn đề trai gái:
Trong mọi trường hợp cung của năm sinh nở gặp Tuần hay Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì mọi kết luận phải đảo ngược.
d. Vấn đề trai hay gái đầu lòng:
Nếu cung Tử có nam đẩu thì sinh con trai trước, nếu có bắc đẩu thì sinh con gái trước. Nếu từ cung Tử biết con đầu lòng là trai mà đến năm sinh nở lại sinh gái thì phải đoán rằng sinh gái đầu lòng khó nuôi còn sinh đúng trai thì dễ nuôi. Ngược lại, nếu cung Tử cho biết con gái đầu lòng mà vào hạn sinh nở lại gặp trai thì khó nuôi.

3. Số lượng con:
Tử tức ca
Trường Sinh bát (8) tử Tuần trung bán,
Mộc dục thất (7) chi sinh ngũ (5) tồn,
Quan Đới Lam quan tam (3) tứ (4) vị,
Đế vượng ngũ (5) tử, bệnh trung nhất (1).
Tử cung hình khắc sự nan ngôn.
Mộ trung Thai Dưỡng chung sanh tử.
Tuyệt trung nhất (1) chi tử mục hôn,
Thai trung đầu nữ nhị (2) chi nhất (1).
Dưỡng cung tam (3) tử nhị (2) miếu tồn.
Trên đây là bài ca xem theo giây sao Tràng Sinh mà đoán. Số đoán bao nhiêu người con theo trên này mà không nhất định còn phải xem ảnh hưởng coi sao Chính toạ thủ chiếu hợp cung Tử Tức, gia giảm theo miếu, hãm, vượng, suy. Ngòai ra, lối đóan cũng không thể chính xác, là vì có những đứa con đẻ ra, mà có đứa sống được, có đứa hữu sinh vô dưỡng; xét tuổi của đương số.
Giải nghĩa:
Cung Tử Tức có sao Tràng sinh đóng là có 8 người con, nếu có Tuần đóng thì bị giảm đi một nửa.
Có Mộc dục là 7 người 5 còn
Có Quan Đới Lâm quan được 3 người
Có Đế vượng là có 5 người
Có Suy là 3, có Bệnh là một
Có Tử là bị hình khắc không nói được
Có Mộ thai dưỡng sau chắc có con
Có Tuyệt có một người bị mù
Có Thai thì có 2 con gái còn một.
Có Dưỡng thì có 3 con còn 2
Chỉ kể đến số con của hai vợ chồng chính thức (có hôn thú) và ở trường hợp một vợ một chồng, sống với nhau lâu dài thì phải tính như sau : ước lượng số của chồng mấy con, ước lượng số của vợ mấy con, đem cộng lại rồi chia hai. Thí dụ : Theo lá số chồng là 8 con, theo lá số vợ 2 con; cộng lại rồi chia hai thì hai vợ chồng đó được 5 con. Trong Tử-Vi các cung Tài-Bạch, Điền-Trạch và Tử-Tức của hai vợ chồng bù trừ cho nhau.
a. Các sao đông con:
Sao Tràng Sinh: 8 con và sao Đế Vượng: 7 con. Những sao hay bộ sao 5 con bao gồm: Tử Vi ở Ngọ – Tử, Phủ đồng cung – Thiên Phủ ở Tỵ, Hợi – Thái Dương, Thái Âm sáng sủa – Thái Dương, Thái Âm đồng cung – Thái Dương, Thiên Lương ở Mão – Thiên Lương ở Tý, Ngọ – Thiên Đồng, Thái Âm ở Tý – Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần – Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung – Thiên Cơ, Thái Âm ở Thân – Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ.
b. Các sao có số con trung bình:
Từ 3-5 con, bao gồm: Tử Vi ở Tý – Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung – Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu – Thiên Đồng ở Mão – Cự Môn, Thái Dương ở Dần, Thân – Thiên Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi – Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu – Thái Dương hay Thái Âm hãm – Thái Âm, Thiên Cơ ở Dần – Tham Lang ở Thìn, Tuất – Thiên Lương ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi – Cự Môn, Thiên Đồng đồng cung – Thất Sát ở Dần, Thân – Phá Quân ở Tý, Ngọ – Tử Vi, Thất Sát đồng cung – Quan Đới, Lâm Quan, Dưỡng – Tả Phù, Hữu Bậ
c. Các sao ít con, làm giảm số con:
Ít con được kể như có hai hay một người con, bao gồm các sao hay bộ sao còn lại, ngoại trừ các sao kể trong cách hiếm muộn. Trong số các sao làm giảm số con, đặc biệt có sao:
– Lộc Tồn: làm giảm đi hai con
– Tuần hay Triệt gặp chính tinh sáng sủa, sẽ làm giảm một nửa số con.

4. Cách sinh đôi: những bộ sao có ý nghĩa sinh đôi khá chắc chắn bao gồm:
– Thai, Nhật, Nguyệt đồng cung
– Nhật, Nguyệt ở Tử giáp sao Thai
– Thai, Tả, Hữu đồng cung
Những bộ sao dưới đây không chắc chắn lắm: Thái Dương, Thiên Hỷ – Thái Âm, Thiên Phúc – Hỷ Thần, Tuyệt đồng cung – Thiên Mã, Tả, Hữu, Địa Không đồng cung.

5. Vấn đề con truyền tinh
Vấn đề này được nhiều người nhắc nhở đến và cho là một yếu tố quan trọng cũng như trường hợp vợ chồng truyền tinh.
– Vợ chồng truyền tinh : Cung Thê của chồng có một bộ chính tinh nào, thì cung Mệnh của Vợ có đúng một bộ chính tinh đó. Hoặc ngược lại, cung Phu của vợ có bộ chính tinh nào thì cung Mệnh của chồng có bộ chính tinh đó. Các bộ chính tinh như Tử-Phủ-Vũ Tướng, Sát-Phá-Liêm-Tham, và không cứ phải đúng chinh tinh tọa thủ tại cung; cung Mệnh của vợ có Liêm Trinh, cung Thê của chồng có Thất Sát, và cả hai cung cùng có bộ Sát Phá Liêm Tham, thế cũng là truyền tinh.
– Con truyền tinh : Cung Tử-Tức của đương số có chính tinh hay bộ chính tinh nào đó, xem cung Mệnh trong lá số đứa con. Nếu cũng có chính tinh hay bộ chính tinh đó, thì đó là đứa con truyền tinh. Đứa con truyền tinh là đứa con sau này có nhiều liên quan với mình, như sau này nó chăm lo phụng dưỡng cho mình, hoặc là sống chung với mình, ở gần mình, hoặc cũng có thể là mình phải chăm sóc cho nó. Không hẳn phải là như vậy có nghĩa là các đứa con khác không có hiếu với mình; cũng có thể có những đứa con không phải là truyền tinh cũng có hiếu với mình, nhưng chúng vì hòan cảnh mà ở xa thì chúng không thể chăm sóc đến cha mẹ theo lối sớm khuya thăm hỏi thế thôi …
– Quan điểm thứ ba dựa vào Ngũ hành giữa các bản Mệnh. Nếu Mệnh đứa con có hành tương sinh với Mệnh của cha hoặc của mẹ thì gọi là tương hợp. Nếu khắc thì tương khắc. Bản Mệnh nào được sinh thì đắc lợi, bị khắc thì xấu. Ví dụ bản Mệnh của đứa con là hành Thủy sẽ tương hợp với các bản Mệnh : Thủy, Kim và Mộc của cha hay của mẹ nhưng sẽ tương khắc với bản mệnh Hỏa, Thổ của cha hoặc của mẹ. Quan điểm này xét ra khả chấp và có thể dùng làm yếu tố đánh giá bổ túc vấn đề truyền tinh. Nếu vừa có truyền tinh, vừa thuận hành giữa bản Mệnh thì càng đẹp. Nếu có truyền tinh mà khắc hành hoặc là bất truyền tinh và khắc hành (nhất là đứa con bị khắc) lại càng xấu cho đứa trẻ.
– Một quan điểm nữa dựa vào hàng Can và Chi của tuổi kết hợp thêm nhị hợp, tam hợp tuổi để biết thêm sự sinh, khắc của đứa con với cha và mẹ. Nói chung chỉ là tương đối cũng không hẳn là chính xác. Trường hợp này nhiều người hay sử dụng vì nó dễ dàng ứng dụng hơn là xem Tử-Vi hay Tử-Bình.
Theo tôi cần phải phối hợp với các phương pháp, chứ áp dụng một phương pháp thì dễ mắc sai lầm chủ quan.
Ví dụ : Tuổi Chồng Canh Tuất (hành Kim) còn Vợ tuổi Ất Mão (hành Thủy). Ta phân tích thấy :
a)- Canh hợp Ất (Thiên can hợp)
b)- Tuất hợp Mão (Địa chi nhị hợp)
c)- Mạng Kim hợp mạng Thủy (vì Kim sinh Thủy :trên lý thuyết là như vậy )
Thoạt đầu nhìn vào, cứ nghĩ là tương hợp thật là hay, nhưng khi xem qua lá số của hai vợ chồng thì thật là tiếc. Vì lá số chồng cung Thê có Hóa Kị, Thái Tuế, Hỏa tinh … tọa thủ . Do đó độ số tương hợp đã giảm bớt. Còn về hành làm sao hành Kim (Xoa Xuyên Kim của chồng) sinh cho hành Thủy (Đại Khê Thủy) của vợ được !? Tương tự khi áp dụng cho con cái.

6. [b]Con nuôi[/b]
Con nuôi ở đây là con khác dòng máu của cả cha lẫn mẹ, không phải là con riêng của cha hay mẹ được mang về nuôi chung với con ruột. Không cần gì phải tuyệt tự mới lập con nuôi. Có gia đình có con cái đông mà vẫn nuôi con nuôi làm phúc. Cho dù là tuyệt tự mà lập con nuôi thì đây cũng là 1 cách tích phúc.
Vì lý do nhân đạo đó cho nên, trong cách con nuôi, tại cung Tử-Tức đều có những sao Phúc dưới đây
–Ân Quang, Thiên Quý.
–Thiên Quan, Thiên Phúc
–Dưỡng.
Có khi không cần hội đủ bộ hai sao. Riêng hai sao Ân Quang, Thiên Quý còn có nghĩa là con nuôi hiếu đễ.

7. Con Dị Bào
Con Dị Bào có nghĩa là người đàn ông có con với mấy người vợ, hay người đàn bà có con với mấy người chồng (Chồng trước, chồng sau, hay vợ trước vợ sau).
Đây là
những cách chính
để đóan có con dị bào ở cung Tử Tức :
– Thiên Tướng, Tuyệt
-Thái Âm, Thiên Phúc
– Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung
– Phục Binh, Tướng Quân
– Thai, Đế Vượng hay Thai Tả, Hữu.

8. Hư thai và khó nuôi con
Sau đây là những cách phép đóan hư thai hoặc khó nuôi con:
–Sát ngộ Thai đồng cung
–Thai ngộ Đào
–Sinh ban đêm mà Thái Âm hãm thì khó nuôi con
–Sinh ban ngày mà Thái Dương hãm thì khó nuôi con

9. Các cách suy đoán kết hợp
Khi xem cung Tử-Tức cũng phải xem cung Phúc-Đức . Cung Phúc-Đức được coi là chủ về sự thịnh vượng hay sự tán tụ của họ hàng (vả chăng, cung Phúc Đức cũng có ảnh hưởng chủ chốt vào cả 11 cung khác). Cung Mệnh, Thân cũng có ảnh hưởng. Nói chung, cung Phúc-Đức tùy theo chính tinh tốt hay xấu miếu vượng hay khắc hãm, mà chủ về gia đình đông đúc hay hiếm hoi, thì cái đó cũng chỉ về con cái. Ngòai ra cung Mệnh, Thân phải tốt, thì do đó mà số con tăng lên, sự nuôi con cũng dễ dàng và mình cũng được nhờ con. Nói cách khác là cung Phúc-Đức và Mệnh-Thân tốt, thì tăng độ số của cung Tử-Tức. Ngược lại, cung Tử-Tức mà tốt, nhưng Phúc Đức lại xấu, Mệnh-Thân cũng xấu, thì phải cho rằng cung Tử-Tức bị giảm kém, hoặc đương số được con cái tốt mà chẳng được hưởng, chẳng được con cái phụng dưỡng.
Tuy nhiên, cũng còn tùy theo kinh nghiệm. Như có người mạng số thật xấu, nhưng cung Tử-Tức lại quá tốt. Người đó về già được hưởng sự phụng dưỡng của con cái. Có người cung Tử-Tức thật xấu, kể như không con, thế mà nhờ Phúc-Đức và Mệnh, Thân tốt, cũng thành có con.
Trong lá số tử vi, hai cung Bào và Tử tức kể như khó đoán, bởi lẽ phải đoán những sự kiện cụ thể, trong khi các cách không hẳn được chính xác (vì còn phải phối hợp với lá số khác).

AB
Ân quang ngộ Tử vi ở Ngọ:…………………………………….. ….. Ta là con thứ hóa ra con trưởng
Ân, Quý ở Bào, Tử:……………………………………… ……………. Là con nuôi (hay anh em nuôi)
Ân ngộ Tấu:…………………………………….. ……………………….. Có con hay anh em cầu tự
Ác tinh (miếu):………………………………….. ……………………… Con trai làm tướng
Ác gặp hung tinh (cùng miếu):…………………………………… . Có con làm đại tướng
Ác tinh (3 hạt 4 ác tinh hãm):…………………………………….. Đẻ con khó nuôi
Ác tinh (miếu) ngộ Tử vi:……………………………………….. …. Con hay anh em anh hùng
Ân, Quí, Tả, hữu:…………………………………….. ………………… Có nhiều nghĩa bào
Ân, Quý (Sửu, Mùi):…………………………………….. …………… Ôn lương, từ tâm, quý hiển
Ân, Tướng ngộ Nhật (miếu):………………………………….. ….. Có chức phận
Ân, Mã, Tướng miếu vượng:………………………………….. …… Phú, Quý
Ân, Tướng, Tướng:………………………………….. ………………… Quý, hiển vinh
Ấn, Tướng, Tuyệt gặp Thai Vượng:……………………………… Có con hay anh em dị bào
Bạch hổ ngộ Thai:……………………………………… ……………… Đẻ non, đẻ khó
Binh, Tướng, Thai, Cái, Đào, Hồng:……………………………. Theo trai hay tự sinh
Binh, Hình, Tuế:…………………………………….. …………………. Hiếm

C

Cô, Quả, Hình:…………………………………….. …………………… Hiếm (hiếm con, hay hiếm anh em)
Gặp thêm nhiều quí tinh:……………………………………… ……. Lại tốt (đông)
Nếu lại bị Không Kiếp hoặc Hỏa Linh Hình Kị hãm:…… Lại bị hiếm
Cung tử có sao chính mà mệnh của đứa con cũng có sao đó (truyền tinh): Cha được nhờ cậy con
Cơ (miếu), Khúc, Xương, Tả, Hữu:…………………………….. 5 người
Cô, Quả, Lộc:…………………………………….. …………………….. Con cái hay anh em cô quả
Cung tử có ác tinh, Mệnh cũng lẫn lộn cát, hung:………… Chẳng ăn thua gì
Mệnh xấu mà cung Tử tức tốt:……………………………………. Về già được nhờ con mà sướng
Cô, Cự môn ở Tử tức:…………………………………….. …………. Xấu
Cự môn, Thiên Đồng hãm ở Tứ mộ:……………………………. Có con mất trước
Cự môn (miếu):………………………………….. ……………………. 2 con
Cự (hãm) ở Bào:……………………………………… ……………….. 1 người
Cô, Quả, Thất ở La Võng:…………………………………….. ……. Con cái hay anh em cô quả (không vợ con, trễ)
Cơ (miếu) thêm cát tinh:……………………………………… ……. Được 2 con (2 anh em)
Cơ, Cự, Mão, Dậu:…………………………………….. ……………… 2 người
Cơ, Lương, La, Võng:…………………………………….. …………. Thọ, Hiếu
Cô, Quả, Song, Hao, Kị:……………………………………… …….. Không lợi
Cơ (miếu):………………………………….. ……………………………. Nhiều anh em
Cự, Nhật (dần, thân), Xương, Khúc:……………………………. 7 người

D

Dương, Đà, Khốc, Hư, Tuế Phá:…………………………………. Muộn sinh, Không lợi
Dương, Đà, Đẩu, Thiên không:……………………………………. Muộn sinh, không lợi
Dương, Hư, Khốc:……………………………………. ………………. Khó nuôi
Dương, Đà, Hỏa, Thiên Không:………………………………….. Nên nuôi con nuôi hay có anh em nuôi, được tốt
Dương, Đà:……………………………………… ……………………….. Con hay anh em ít, hay lẩn thẩn
Dương, Đà, Hỏa, Tang, Không:…………………………………… Có con nuôi, anh em nuôi
Dương, Đà, Hỏa, Tuyệt, Không:…………………………………. Có con nuôi hay anh em nuôi
Diêu, Hình (ở Bào tử):…………………………………….. ……….. Ít và gian
Diêu, Hình, Đào, Hồng (Bào tử):……………………………….. Bất chính về tình
Diêu, HÌnh, Hư, Khốc, Tuyệt:…………………………………… .. Hiếm, hỏng
Dương, Đào (Bào, tử):…………………………………….. ………… 2 người
Dưỡng (ở Tử tức):……………………………………. ……………….. Có con nuôi
Dưỡng và Hỉ thần:……………………………………. ……………….. Có quý tử
Dưỡng, Hư, Khốc:……………………………………. ………………. Đẻ nhiều, nuôi ít
Dưỡng ngộ Thai:……………………………………… ……………….. Có con nuôi
Dưỡng ngộ Tam Không:……………………………………. ………. Hiếm, hỏng
Dưỡng, Phi:………………………………………. ……………………… Hiếm, hỏng

Đ

Đà, Kị:……………………………………… ……………………………… Chậm con trai
Đà, Không, Kiếp (hay Thất):…………………………………… …. Con kém thông minh
Đẩu quân:…………………………………….. …………………………… Hiếm con, muộn con
Đẩu quân, Phục:……………………………………. ………………….. Ít, tà tâm
Đào, Hồng:……………………………………. …………………………. Nhiều con gái
Đào, Hồng, Tướng:………………………………….. ……………….. Tài hoa, gái khéo
Đào, Mã, Linh:……………………………………… ………………….. Bị vạ miệng
Điếu, Tang (hay Hổ, Tang):…………………………………….. …. Ít, hiếm
Đào (ở Tử tức):……………………………………. …………………… Con gái bị kém
Đồng, Nguyệt (miếu):………………………………….. …………… 6, 7 người
Đồng (hãm):……………………………………. ……………………….. 1 người
Đồng Lương Tị Hợi:…………………………………….. …………… Dâm đãng
Đồng, Lương miếu:……………………………………. ……………… 6 người
Đồng (miếu, vượng, đắc):…………………………………… …….. Nhiều gái, ẩn tuổi
Đồng, Lương, Tham:……………………………………… ………….. 3 người
Đới (3 người làm nên) gặp 2 đức:………………………………. Hiền

H

Hình:…………………………………….. …………………………………. Bất hòa
Hình, Kị:……………………………………… …………………………… Bất hòa đến đánh nhau
Hình, Hổ, Thất:……………………………………. ……………………. Đánh nhau mạnh
Hình, Kị, Phá:……………………………………… ……………………. Bất hòa, đánh nhau mạnh
Hình, Kị, Thất:……………………………………. …………………….. Bất hòa, choảng nhau mạnh
Hình ngộ Tuần hay Triệt (ở Bào):……………………………….. Anh em lưu lạc
Hình, Thái tuế, Hỏa, Linh:……………………………………… ….. Chậm có con
Hình, Kị (thêm chính tinh miếu):……………………………….. Cũng bất hòa
Hổ, Lang tại Dần:…………………………………….. ……………….. Nhiều con
Hổ, Lang, Không, Kiếp:……………………………………. ………. Mấy lần chết con
Hóa Kị, Thiên Không:……………………………………. …………. Xung khắc
Hổ, Tang, Kiếp sát, Toái:…………………………………….. …….. Hiếm con, hiếm anh em
Hóa (tam Hóa):…………………………………….. ………………….. Phú quí
Hình, Hỏa linh, tang:……………………………………… ………….. Về già thêm quý tử
Hỏa Linh (ở Bào và Tử):…………………………………….. ……… Vất vả
Hỏa, Linh, Không, Kiếp:……………………………………. ……… Hiếm con, hiếm anh em
Hữu, Tả, Thai:……………………………………… ……………………. Có con hay anh chị em dị bào
Hữu, Tả, Tang, Điếu:…………………………………… …………….. Lộn chồng
Hữu, Tả, Tang, Điếu:…………………………………… …………….. Lộn chồng
Hữu, Tả, Tang, Tử vi:……………………………………….. ………… Lộn chồng
Hư, Khốc:……………………………………. …………………………… Tuy bạo tợn, nhưng có hiếu

K

Kị:……………………………………… ……………………………………. Hiếm
Không, Kiếp:……………………………………. ………………………. Ít, xung khắc, xa nhà
Không, Kiếp, Mã:………………………………………. …………….. Li tán
Không, Kiếp, Tuần Triệt:…………………………………… ………. Tà đạo
Không (Thiên không), Địa kiếp:…………………………………. Ít
Khôi (ở Bào):…………………………………….. …………………….. Mình là đàn anh
Kiếp sát, Phá toái:…………………………………….. ………………. Ít mà tà
Khôi, Khoa (hay Khôi, Việt):…………………………………… .. Học hành được, đậu cao
Khúc, Xương:…………………………………… ………………………. Nam có tài, nữ có sắc
Khôi, Thai, Tướng, Vượng:………………………………….. …….. Có dị bào
Khúc, Xương, Tuế, Nhật, Nguyệt:………………………………. Khôn, có tài.

L, M

Lâm, Liêm:…………………………………….. ………………………… Lâm 2 người, Liêm (miếu) 3 người
Liêm, Phủ đồng cung:……………………………………… ……….. 3, 4 người
Liêm, Phá:……………………………………… ………………………… có 2 người làm nên
Liêm, Phá (mão, dậu):……………………………………. …………. Có nữ góa
Liêm, Tham đồng cung:……………………………………… ……… Sồ sề, đen, có tài
Long, Phượng (giáp):…………………………………… ……………. Được 3 phần 10 về giầu sang
Long, Phượng:…………………………………. ……………………….. Sang giầu
Long, Long, Thai:……………………………………… ………………. Quí tử, vinh hiển
Mã, Tang:……………………………………… ………………………….. Li tán
Mã, Khốc, Khách, Lộc, Sinh:……………………………………… Phú, Thọ
Mã, Thanh Long:……………………………………… ……………….. Nhiều may
Lộc, Lộc, Tướng…………………………………… ………………….. Đều làm quan (chức vụ cao)
Lộc Quyền:…………………………………… ………………………….. Hiển vinh
Lộc, Mã, Tướng, Thanh:…………………………………….. ……… Buôn bán giầu, hiển vinh
Lương (miếu):………………………………….. ………………………. Con hay anh em 5 người
Lương, Tướng:………………………………….. ………………………. 3 người thành nhân
Lương, Tướng, Đới:……………………………………. …………….. 3 người làm nên
Mã, Tồn ở Bào:……………………………………… …………………. Buôn bán giàu có

N

Nhật, Nguyệt đồng cung ở Tử tức:……………………………… Nhiều xung khắc
Nhật Nguyệt giáp Thai:……………………………………… ………. Sanh đôi
Nhật Nguyệt, Tràng sinh:……………………………………… ……. Có danh vọng, làm chức lớn
Nhật tại Tử tức ở Ngọ:…………………………………….. ………… Quí tử
Nhật ngộ Thai:……………………………………… …………………… Con cầu tự
Nguyệt ngộ Thai:……………………………………… ……………….. Con cầu tự
Nguyệt (hãm):……………………………………. …………………….. 1, 2 con
Nhật (3), Nguyệt (2), Khúc, Xương:…………………………… 7 con
Nhật (hãm)…………………………………….. …………………………. Không con, hiếm con
Nhật (hãm) gặp Thanh:…………………………………….. ………… 1 hay 2 con
Nguyệt, Tồn tại Tý ở bào:……………………………………… …… Có anh em dị bào
Có nam tinh (Khôi, Việt):…………………………………… …….. Sinh trai trước, ít gái
Có nữ tinh (Hồng, Đào):……………………………………. ……… Sinh gái trước, ít con trai

P

Phúc, Quan:……………………………………… ………………………. Con cầu tự
Phủ, Tử:……………………………………… ……………………………. Con thọ và quý
Phủ (miếu):………………………………….. ………………………….. 5 người
Phủ (hãm):……………………………………. ………………………….. 2, 3 người
Phá (miếu):………………………………….. …………………………… Dị bào, 3 người
Phá ngộ tướng quân (miếu):………………………………….. …… Có con anh hùng
Phù, Thái Tuế:…………………………………….. ……………………. Con hay anh em gặp kiện cáo
Sinh, hay Vượng:………………………………….. …………………… Con hay anh em thọ
Phá, gặp Tuần hay Triệt:…………………………………… ……….. Xấu.

T, V

Thất, Vũ:………………………………………. ………………………….. Buôn bán, kinh doanh
Thất (miếu):………………………………….. ………………………….. Đông
Thất (hãm):……………………………………. …………………………. 1 người
Thất (Tý, Ngọ, Dần, Thân) gặp Tử, Phủ:………………………. Được 2, 3 người
Thai, Tướng, Tuyệt, Vượng:………………………………….. ……. Dị bào
Thai, Tọa ở Tứ mộ:……………………………………… …………….. Đông (11 người)
Tham (miếu):………………………………….. ………………………… Có dị bào. 3 hay 2 người
Thanh, Vượng:………………………………….. ………………………. Nhiều người thọ
Tuyệt và Mộ:……………………………………… …………………….. Ở riêng. Dị bào
Tướng, Xương Khúc:…………………………………….. ………….. Được 6 người
Tướng, Vũ hãm:……………………………………… …………………. 2 người. Làm thợ khéo
Tuyệt ngộ Triệt:…………………………………… …………………… Dị bào
Vũ (miếu):………………………………….. ……………………………. Được 2 người
Vũ (hãm):……………………………………. ……………………………. Được 1 người
Việt (ở Bào hay Tử tức):……………………………………. ……… Mình là con thứ
Vũ:………………………………………. …………………………………… Hay xung khắc
Vi (miếu)…………………………………… …………………………….. 5 người (3 trai, 2 gái)

-THAI TINH MÔ DIỆU LẠI TRIỀU ĐA HỌC TRIỂU THÀNH Cung Mệnh có Thai, Mộ hội chiếu tất có học nhưng không đỗ đạt.
-THAI PHÙNG SÁT DỤC TU PHÒNG SẢN PHỤ Đàn bà cungMệnh, Tật Ach hay Tử Tức có Thai, Kiếp Sát, Mộc Dục hội hợp tất sanh đẻ khó khăn.
-NỮ MỆNH THAI ĐÀO PHÙNG KIẾP GIÁN TỬ CUNG Nữ số cung Tử Tức có Thai, Đào ngộ Kiếp Sát tất hiếm con.
-THAI TINH NGỘ THÁI ÂM CUNG TỬ, HẠN RẰNG CON CẦU TỰ MỚI SINH Cung Tử Tức có Thai gặp Thái Am tất phải cầu tự mới có con.
-TỬ CUNG THAI TƯỚNG PHỤC BINH VỢ CHỒNG ẮT ĐÃ TƯ SINH THUỞ NÀO Cung Tử Tức có Thai, Tướng Quân, Phục Binh hội hợp tất vợ chồng đã có con riêng rồi mới lấy nhau.
-DƯỠNG HỶ LÂM Ư TỬ TỨC TẤT SANH QUÝ TỬ Cung Tử Tức có Dưỡng toạ thủ gặp Thiên Hỷ tất sanh con quý hiển .
-THAI PHÙNG TẢ HỮU HỢI CUNG, NAM NHÂN ẮT CÓ CON DÒNG THIẾP THÊ Cung Tử Tức có Thai toạ thủ Tả, Hữu đồng cung tất có con giòng vợ nhỏ.
-TỬ CUNG THAI NGỘ HOẢ LINH BÀO THAI NHỮNG GIỐNG YÊU TINH MUỘN PHIỀN Cung Tử Tức có Thai gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì thật đáng buồn sinh con hình dung cổ quái.
-THAI PHÙNG KIẾP SÁT TU PHÒNG SINH SẢN Đàn bả cung Mệnh,Tử Tức hay Tật ách có Thai ngộ Kiếp Sát tất sinh đẻ khó khăn.
-HỌ HÀNG CÓ KẺ BINH ĐAO TƯỚNG BINH TỬ TUYỆT ĐÓNG VÀO PHÚC CUNG Cung Phúc Đức có Tướng quân, Phục Binh gặp Tử, Tuyệt thì trong họ có người chết về binh đao.
-THAI PHÙNG ĐÀO HỶ VẬN NÀY VỢ CHỒNG MỪNG ĐÃ ĐẾN NGÀY NỞ HOA Hạn có Thai, Đào,Hỷ hội hợp tất sanh con.

Tác giả: Ngọc Cầm

Ý nghĩa trong lá số tử vi – cách giải

1. Quan sát và phân tích bố cục của các cung và các sao
+ Thế đứng của các chính tinh: Sao nào đi với sao nào để thành cặp, vị trí của các cặp sao Âm Dương, Tử Phủ, Thất Sát, sao chủ mệnh. Miếu hãm của các sao.

 


+ Thế đứng của các ngôi: mệnh tài quan nằm ở đâu, phu thê ở đâu…
+ Quan sát bố cục của các trung tinh, phụ tinh:
Trung tinh gồm các sao như: Khôi Việt Tả Hữu Tứ Hoá, Xương Khúc, Thanh Long, Quang Quý, Thiên Hình Thái Tuế, Kiếp sát, Lộc tồn, Lục sát ( Kình Đà Linh Hoả Không Kiếp), Thiên Mã.
Tuy nói là trung tinh, nhưng nhiều khi nó quyết định cục diện của lá số còn mạnh hơn cả chính tinh.
Kế đó phải kể tới vòng Tràng sinh, rồi Khốc Hư, Tang Hổ, và các sao chỉ bộ phận trong cơ thể để đoán biết về đặc điểm ngoại hình, bệnh tật.
Từ sự quan sát bố cục lá số này, cần phải rút ra được:
– Điểm nổi bật nhất của lá số: Mấu chốt nằm ở cung nào, sao nào, cách cục nào
– Chỗ tốt ở đâu, chỗ xấu ở đâu.( Các ưu điểm và nhược điểm)
– Mức độ tốt xấu của từng yếu tố, ví dụ mức độ thành công về sự nghiệp, mức độ hạnh phúc trong gia đình…Nếu không nhận biết được mức độ thì không thể có kết luận khi giải số.
2. Xem xét riêng lẻ từng cung, từng sao
Về các cung: đầu tiên là cung mệnh, sau đó là cung hạn. Các cung còn lại thì tuỳ vào vấn đề muốn biết mà xem xét kỹ lưỡng hơn: ví dụ muốn hỏi về con cái thì căn cứ chính là cung Mệnh và cung Tử. Nhiều quan niệm coi cung Phúc là quan trọng khi xét bất cứ yếu tố nào của lá số, theo tôi thì không hẳn.
Về các sao: Phải xem chính tinh trước khi xem trung tinh và phụ tinh, nhất là chính tinh thủ trong những cung quan trọng đối với vấn đề cần luận đoán.
Từ chính tinh mà đánh giá tác dụng của trung tinh, cũng như từ sự kết hợp của chính tinh, phụ tinh, cung, ta mới xét đến các tiểu tinh ( phụ tinh).
Ví dụ: Tả Hữu phò tá cho Tử Phủ, Tam Minh phò tá cho Nhật Nguyệt. Tôi giỏi phải gặp vua hiền, mọi thứ phải đặt đúng chỗ của nó thì mới có tác dụng.
Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, nên không phải chỉ một sao hay một cung quyết định lá số hay một vấn đề, mà là tương tác phối hợp giữa các sao, các cung.
Tương tự như vậy, cung mệnh và cung hạn phải được tính làm đầu trong mọi luận giải.
Nếu không xác định được thứ tự ưu tiên, thứ tự quan trọng thì việc giải đoán tử vi sẽ rơi vào một mớ bòng bong, và dẫn đến mất độ chính xác.
3. Tập trung vào từng câu hỏi, từng vấn đề
Nghĩa là phải xác định được câu hỏi là gì để tập hợp và xử lý dữ liệu. Chỉ một câu hỏi nhưng có khi phải xem xét cả một lá số.
Sự tập trung và dứt khoát trong giải quyết vấn đè sẽ giúp luận giải được chính xác, vi tế hơn.
4. Định giờ sinh
Thực ra đây là thao tác quan trọng hàng đầu trước khi trả lời bất cứ câu hỏi nào đặt ra cho một lá số. Tuy nhiên vì việc làm này không phải dễ, nên tạm thời PC không trình bày trong khuôn khổ cuốn sách.
Với các bạn đọc có trình độ , hoàn toàn các bạn có thể xác định được và nên xác định giờ sinh. Sau khi trải qua ba bước noí trên, thì có thể xác định được tới 70% giờ sinh đã chọn là đúng hay sai.
Thao tác định giờ sinh được dựa chủ yếu trên:
– Hình dáng của đương số
– Đặc trưng về thân nhân
– Các sự kiện quan trọng trong từng niên hạn ( năm), nguyệt hạn (tháng)
Người giải đoán số cần có kinh nghiệm và sự nhạy cảm cần thiết. Có lúc chỉ nhờ có 1 sự kiện, một dấu vết để biết là có đúng giờ đó hay không.
Biểu tượng của các sao
1. Chính tinh
– Âm dương biểu tượng cho đôi mắt, thần thái, khả năng tình dục, sự thể hiện tình cảm và nhân sinh quan.Có cả khả năng điều hoà nữa.
– Tử Phủ biểu hiện dáng người, cân nặng, thế đi đứng, oai phong.Lục phủ ngũ tạng.
– Tham Lang thể hiện nhu cầu vật chất, nhu cầu tình dục, lòng tham. Phần thân dưới, những bộ phận nở nang như mông, ngực.
– Thiên Cơ thể hiện trí tuệ, khả năng tính toán, tổ chức.Tượng là cái trán, phần mày mắt.
– Vũ Khúc: Khả năng nghệ thuật, tài chính. Cái mũi, phần lườn, cánh tay.
– Cự Môn: Khả năng kháng cự, khả năng ngôn ngữ.Miệng, hậu môn, bộ phận dưới.
– Liêm trinh: Lập trường, cá tính, uy nghiêm. Phần xương cốt trên khuôn mặt, thần thái uy nghiêm trên toàn bộ cơ thể.
– Thiên tướng: Khả năng lãnh đạo, sai khiến người khác, năng lực quân sự. Cái đầu.
– Thiên đồng: Lượng mỡ trong người, phần dưới hai gò má ( thịt bao xương quai hàm), cái bụng.
– Thiên Lương: Lương tâm. Cột sống. Nhân trung.
– Thất sát: Tính cương quyết, dám làm dám chịu, có thể trả đũa hay sát phạt. Hàm răng. Xương và tính chất của bàn tay.
– Phá quân: Tính quật cường, làm phản, lập dị. Ấn đường và hai chân mày.
2. Trung tinh, phụ tinh
– Tả Hữu:Khả năng nhường nhịn, vị tha, thích ứng. Đôi vai, đôi tay.
– Hoá Khoa: Tư duy tri thức .Bộ não, sự đầy đặn rộng rãi của trán.
– Hoá Quyền: Khả năng quyết định, làm chủ. Gò má.
– Hoá Lộc: Khả năng buôn bán, kiếm lợi từ thiên hạ.Tóc, râu
– Hoá Kỵ: Tính đố ky, nghi ngờ, đối nghịch. Cái lưỡi, đôi môi.
– Khôi Việt: Vẻ sang trọng. Khu vực đầu mặt.
– Xương Khúc: Tình cảm, năng lực tưởng tượng. Xương, khớp.
– Kình Dương, Mộc dục: Bộ phận sinh sản của nam nữ.
– Thai: Tử cung
……
Một vài cách cục
a. Giàu
– Thái Âm, Vũ Khúc, Tham Lang, Thiên Phủ, Hoá Lộc, Thiên Mã, Lộc tồn được sinh vượng hay đóng tại mệnh mà hợp cách.
– Các sao tài tinh nói trên hội tụ cùng nhau.
– Tham ngộ Hoả Linh
– Tài, Phúc, Điền tốt.
– Riêu Lộc Trù đều vượng và bổ trợ cho mệnh.
b. Sang
– Âm Dương Xương Khúc Khôi Việt Khốc Hư đắc địa, phối hợp.
– Chính tinh hãm mà nhiều phụ tinh mạnh mẽ hỗ trợ, đặc biệt là Tam hoá.
– Vô chính diệu đắc cách: có trụ cột ( triệt tuần hay hung tinh đắc), có cát tinh chầu.
– Thanh Long Lưu hà, Thanh Long Hoá Kỵ, Tứ Linh đắc thời, đắc địa.
– Tử Vi, Phá Quân có nhiều trung tinh phò tá hợp cách.
– Sinh Vượng ở nơi vô chính diệu hay đất thuỷ mộc.
c. Uy quyền
– Thiên Tướng, Vũ Khúc, Thất Sát có khí thế mà ứng với mệnh hay hạn.
– Cô, quả, đẩu quân, thái tuế
– Hoá Quyền.
– Mã Khốc Khách, Hoa cái.
– Khôi Việt vượng và có cặp.
d. Hạnh phúc
– Đào Hồng Hỉ, Thiên Trù, Hoa cái, Thanh Long, Thiên Riêu, Âm Dương, Long Phượng,Thai Toạ, Quang Quý.Những sao này chỉ niềm hạnh phúc trong tâm hồn. Nếu chúng đóng tại cường cung, nếu được sinh vượng và hội cùng nhiều cát tinh thì hạnh phúc được hưởng sẽ rõ nét, ngược laị thì dễ bất hạnh.
-Cung Mệnh và cung Phúc có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trạng thái tâm lý chính của đương số. Hai cung này tốt thì dù đời có nhiều gian khổ, đương số vẫn cảm nhận được nhiều hạnh phúc.
e. Sức khoẻ, tuổi thọ
– Cách xấu: Xương Khúc với Hoá Kỵ, Cơ với Hoả Linh, Lương Tham với Kình, Nhật Nguyệt với Kình Đà Riêu Kỵ, vô chính diệu mà không có người trông giữ ( triệt tuần, thanh long, lục sát vượng), Tử Phủ với kiếp không thêm sát tinh…
– Cách tốt: Chính tinh miếu địa, sát tinh không khắc với chính tinh và bản mệnh. Vòng tràng sinh tốt. Phúc tinh được vượng và ở cường cung.
– Sao Bệnh, Tuyệt, Kiếp sát và Hoá Kỵ đặc biệt không tốt cho sức khoẻ. Có nó thì tiêu chí bệnh tật tai nạn rõ nét, và dai dẳng.
Bàn về 12 cung
1. Cung mệnh
Mệnh cung là chủ thể của cả lá số tử vi. Phái tử vi phúc tông cho rằng cung Phúc là quan trọng nhất, nhưng không phải vậy. Cung Mệnh mới là cái gốc để xét đoán mọi vấn đề trong lá số.
Khi quan sát cung Mệnh người ta xét các yếu tố sau:
– Vị trí của cung mệnh trên lá số: nằm ở cung nào trong số 12 cung từ Tí đến Hợi. Nhị hợp, tam hợp, xung chiếu, giáp các cung nào.
– Các sao đóng trong mệnh, chiếu hợp vào mệnh. Có xem xét cả miếu vượng của sao.
– Tương tác giữa các sao có ảnh hưởng, giữa sao với cung mệnh, giữa cung mệnh với bản mệnh ( gồm mệnh nạp âm, can chi tuổi).
Thông tin có được từ cung Mệnh:
– Cách cục chính của đương số
– Hình dáng, tính cách, tài năng
– Một phần sự thành công trong cuộc đời: về tiền tài địa vị hay hôn nhân, thậm chí cả con cái.
– Mối tương quan giữa bản thân đương số với thân nhân và với xã hội xung quanh.
Thế nào là một cung mệnh tốt?
Cung Mệnh tốt là một cung mệnh thể hiện sự cường vượng, nhưng lại có sự hài hoà với các cung khác. Mệnh nam thì cần chỉ huy được các cung khác, thu hút được nguồn lực từ tam phương tứ chính., còn mệnh nữ chủ yếu cần nhu thuận, giúp đỡ cho các cung khác đặc biệt là cung chồng và cung con, tức cung Phu và cung Tử.
Như vậy một cung Mệnh tốt thường sẽ có:
– Chi của cung hoà hợp với bản mệnh: tương sinh hay ngang hoà với mệnh nạp âm. Nếu chi của cung trùng với chi của tuổi, thì rất tốt trong việc hỗ trợ cho những người mệnh yếu. Đây cũng là một chỉ dấu thuộc quý cách.
– Sao chính tinh thủ mệnh được sinh vượng, có ứng hợp với bản mệnh thì càng tốt.
– Cung mệnh hội tụ được các quý cách, phú cách. (Tham khảo các sách tử vi đã xuất bản).
Vì có ảnh hưởng tới nhiều cung trong lá số nên mệnh mà có Thất Sát thì thường có tính khắc với thân nhân.
2. Cung Phúc
Người ta thường coi cung Phúc là nói về họ hàng của đương số, và phúc phần của đương số.
Tôi trong nghiên cứu thấy rằng ý nghĩa về họ hàng không được chính xác lắm. Vì trong một họ có người giàu người nghèo, người tốt kẻ xấu, chênh lệch đã rất nhiều. Anh em lá số còn khác nhau huống chi cả dòng họ.
Ý chủ yếu của cung Phúc là thể hiện sự may mắn, được che chở hay không. Nếu một cung Phúc tốt thì đương số dễ gặp thuận lợi, an nhàn, được quý nhân giúp đỡ. Phúc vì tam hợp với Phu Thê nên tất nhiên có ảnh hưởng quan trọng tới người chồng, người vợ. Ngoài ra cung Phúc còn có ý nghĩa hỗ trợ để xem về con cái và bản mệnh thọ yểu của chính đương số.
Những sao đóng trong cung Phúc có ý nghĩa chỉ ra hạnh phúc và phúc đức của đương số phụ thuộc vào điều gì. Như cung Phúc có Đào Hồng sinh vượng thì hạnh phúc có được về tình duyên là rất đáng kể. Nếu Hoá Kỵ ở cung Phúc thì thường phải lao tâm khổ tứ, trắc trở tình duyên.
3. Cung Tài
Cung này chủ tiền bạc và các vấn đề liên quan tới tiền bạc của đương số. Nó không phải là cung duy nhất quyết định giàu nghèo như nhiều người lầm tưởng.
Nó cũng có thể là một cung chỉ tài năng, năng lực và công việc. Bởi vì những thứ này đều liên quan chặt chẽ tới tiền bạc. Ý nghĩa tài bạch không chỉ là tiền, mà bao hàm cả tài năng, năng khiếu.
Cung Tài tốt thì nên có tài tinh như Vũ Khúc Thái Âm Song Lộc, Trù Riêu, Linh Hoả hợp cách…. Có hung tinh cũng có thể tốt chứ không phải luôn luôn xấu, có điều hung tinh thì kiếm tiền hay dựng nghiệp sẽ vất vả hơn người khác.Thêm các sao có tính tích trữ, che giấu thì thường là tốt hơn, vì lộ ra thì dễ bị tranh cạnh.
Tài cung toàn sao rực rỡ sáng sủa nhưng lại không có tài tinh, tài tinh trong lá số bị phá hãm, thì chỉ giàu bề ngoài mà thực chất nghèo, hay ít của chìm.
4. Cung Phu hay Thê
Cung này chỉ người hôn phối. lại chỉ cả tính chất, kết quả của mối quan hệ giữa đương số với người khác pháì.
Cho nên một cung Phu Thê quá xấu thì kết hôn mấy lần vẫn chẳng được hài lòng. Còn cung Phu Thê tốt thì tuy vẫn có thể hai lần kết hôn, nhưng đều lấy được người ưng ý, cảm nhận được hạnh phúc và thuận lợi trong hôn nhân.
Cung Phu Thê không thể xem tách biệt mà phải kết hợp cùng cung mệnh, Nhật Nguyệt và các sao tình duyên để đoán.Tuy nhiên cung này đặc biệt có ý nghĩa khi luận hạn, hay xác định các điểm đặc biệt, sự kiện đặc biệt về người hôn phối, như năm kết hôn, v.v….
Hôn nhân ngoài đời rất đa dạng, từ nguyên nhân và hoàn cảnh lấy nhau lẫn đời sống gia đình. Do vậy nếu nhìn một cung Phu Thê xấu cũng chưa đoán quyết được là bỏ nhau, hay sát phu sát thê. Có thể chỉ đơn giản là lúc kết hôn bị nhiều phản đối, chung sống đồng sàng dị mộng…. Người phụ nữ ngoại tình có thể là rất tồi tệ đối với người đàn ông này, nhưng lại là chấp nhận được trong mắt người đàn ông khác.
Cho nên ý nghĩa của cung Phu Thê biến chuyển linh hoạt, tuỳ vào phối hợp trong lá số mà xác quyết .
5. Cung Tử Tức
Tử tức cung không những chỉ về con mà còn nói lên khả năng sinh sản, sinh dục nói chung. Vì lẽ đó mà khi các sao Thiên Hình Kiếp sát xuất hiện, thì người mẹ dễ phải mổ xẻ lúc lâm bồn.
Cung này được phép tốt hơn cung mệnh hay bất cứ cung nào trong lá số, theo đúng tinh thần của câu : “con hơn cha là nhà có phúc”. Cung Tử tức tốt có nghĩa là các sao đúng cách cục, thể hiện ý nghĩa thấp nhất là con cái dễ nuôi, có hiếu, cao hơn thì là con cái phú quý làm rạng rỡ tổ tông.
Quan niệm truyền thống thường ưa có quý tinh và phúc tinh trong cung mệnh. Quyền tinh, sát tinh nếu xuất hiện nhiều thì có thể là hoạ, có thể là phúc, vì nó nếu không chỉ việc khó nuôi con, con hư hỏng thì đe doạ đến một cung mệnh yếu đuối: đây là đứa con khắc cha mẹ.
Quý tinh là gì? Là Nhật Nguyệt sáng sủa, tam hoá, long phượng, cái mã, khôi việt… Phúc tinh thì có Đồng Lương, Thiên phủ, Tứ đức, Quan Phúc, Quang Quý…
6. Cung Điền Trạch
Có câu: An cư thì mới lạc nghiệp. Ấy vậy mà người ta lại cứ đi coi Điền là một nhược cung.
Cung Điền chỉ nhà cửa, tài sản lớn, sự nghiệp lớn . Thời nào thì thời, quan to tất cái nhà thường cũng phải to, còn người nghèo thì nhà rách vách nát, thậm chí không có nhà . Thế nên cứ ngắm cung Điền thì biết được nhiều việc về sự giàu có hay nghèo hèn. Các ông quan to, giám đốc, lãnh đạo cung Điền phải rất tốt, nếu không thì khó mà tạo dựng được sự nghiệp, có tạo được thì cũng chỉ là danh tiếng suông, không có thực lực.
Cung Điền hay nhất là có tài tinh, có sao chủ sự sang trọng đẹp đẽ như Long Phượng Thai Toạ. Ngoài ra nên có sao chủ sự uy nghiêm,
sự hỗ trợ, sự bảo vệ, như Tả Hữu, Quan Phúc… để ý nghĩa về sự nghiêp được tốt đẹp.
Người có cung Điền tốt thì trong sự nghiệp có thể có những đầu tư vào lĩnh vực lớn như xe hơi, bất động sản. Cung điền suy yếu thì dù các cung khác có tốt, cũng chỉ nên làm các lĩnh vực gắn với sản phẩm nhỏ .
7. Cung Quan Lộc
Cung này ý nghĩa chính yếu nhất là nói lên công việc của đương số, những công việc mà đương số có duyên làm, có thể làm. Ngoài ra còn có ý nghĩa chỉ cấp trên, cơ quan.
Đương nhiên một cung Quan tốt thì công việc dễ dàng, thuận lợi. Có nhiều sao chủ quyền quý tài năng thì chuyên môn cao, có thể có khả năng lãnh đạo. Ý nghĩa quyền chức không thực sự quyết định tại đây. Chính vì vậy ta thấy ngoài đời có nhiều người chẳng giỏi về chuyên môn nhưng vẫn có ghế, có quyền thế đàng hoàng, đó là vì các cung như Điền, Di, Mệnh, Nô phối hợp tốt. Trường hợp Quan tốt và các cung kia cũng tốt thì địa vị có được do thực taì. Quan tốt cũng thường là công chức, làm cho chính quyền, nhà nước. Còn Quan không tốt thì là dân tự do nhiều hơn, và vẫn có thể thành đạt.
Tuỳ vào ngũ hành, tính lý và biểu tượng của các sao trong các cung Mệnh Tài Quan mà quyết định về nghề nghiệp, cung Phu Thê có thể bổ túc thêm với ý nghĩa tạo cách cục, hay chế hoá cho Quan Lộc.
Cung Quan còn thể hiện những gì đương số nhận được từ xã hội, từ người trên, cấp trên, cái này người ta gọi là ” được lộc”. Chữ Lộc ở đây không chỉ có nghiã hẹp là tiền tài.
8. Cung Thiên Di
Cung này chỉ khả năng thích ứng với xã hội và hoạt động trong xã hội . Với ý nghĩa đó thì nó sẽ gồm cả: khả năng kết giao bè bạn, lãnh đạo, thích ứng hay chỉ huy hoàn cảnh…. Và như vậy rõ ràng là một cung Di tốt sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của cuộc đời. Người Di tốt thì khả năng giao tế đa số tốt.
Trong một ý nghĩa nhỏ hơn, nó chỉ chung về các hoạt động di chuyển, di cư của người đó trong đời. Vì vậy có vai trò quan trọng khi điểm hạn và xem có sống xa quê hay không.
Cũng từ các lý luận trên, ta suy ra cung Di tốt là cung Di có nhiều sao chủ sự linh hoạt, bén nhạy, mềm mỏng. Vậy thì Khôi Việt, Nhật Nguyệt, Tấu thư, Xương Khúc, Hoá Khoa … hẳn nhiên là tốt. Một cung Di quá tốt cho đương số lời khuyên: li hương lập nghiệp. Mã Khốc Khách Lộc Trường Sinh là một cách tốt đặc biệt cho cung Di.
9. Cung Tật Ách
Có quan điểm cho là Tật ách thể hiện bản chất con người , còn cung Mệnh chỉ là vỏ ngoài. Lý luận này có nhiều điểm mâu thuẫn.
Rõ ràng có những người thể hiện không khác nhiều với bản chất.
Do đó cung Tật ách chỉ là chỉ chung về bệnh tật tai ách mà thôi. Ngay cả đám ma thế nào cũng chưa chắc được, cái chết và đám ma không nhất thiết nằm ở cung Tật ách. Tuy cung này không phải là cường cung, nhưng vì bệnh tật và tai ách gây ra nhiều khổ cực, lo lắng cho đương số, nên cung Tật xứng đáng được xem xét kỹ càng.
Trong cung này, quyền tinh quý tinh gì cũng chẳng quan trọng, chỉ quan trọng về các sao biểu tuợng cho bộ phận cơ thể và các phúc thiện tinh. Dĩ nhiên ai cũng muốn khoẻ mạnh và ít tai tật. Vậy thì trong cung này, cần nhất là sự sinh vượng và tránh sát tinh. Chính tinh vượng địa, Quang Quý Quan Phúc Tứ Đức lúc nào cũng được chào đón. Triệt Tuần tại một cung Tật vô chính diệu cũng là cách tốt.
Muốn đoán cụ thể hơn thì từ tượng hình của các sao mà luận, không có gì phức tạp.
Có một vai trò bổ sung khác của cung Tật. Nếu cách của cung Mệnh là người che giấu, hay là người giả dối, thì người ta có thể suy ra tính cách bản năng của anh ta trong cung Tật ách. Nhưng ý nghĩa này rất mờ nhạt, hiếm khi phải sử dụng.
10. Cung Phụ Mẫu
Phụ mẫu cung chủ yếu chỉ vai trò của cha mẹ trong đời sống của đương số, nói hình tượng hơn là ta nhìn cha mẹ của đương số qua lăng kính của chính đương số . Chứ không nhất thiết là nó có thể cho thấy chính xác cuộc đời của cha mẹ.
Trường hợp cung Phụ mẫu rất đẹp thì thường là cha mẹ khá, tất nhiên phải phối hợp với Nhật Nguyệt . Nhưng khi cung Phụ mẫu xấu thì chưa chắc cha mẹ đã kém, mà chỉ là đương số không nhận được hỗ trợ của cha mẹ, không được hưởng lộc hay tình yêu từ song thân. Còn có ý nghĩa khác: khắc phụ mẫu.
Nằm trong tam hợp Tử Phụ Nô, xung chiếu với Tật ách, Phụ mẫu có tác dụng phối hợp để luận giải những cung này.
11. Cung Huynh Đệ
Huynh đệ cung chỉ số lượng anh em, sơ lược về cuộc đời của anh em và quan hệ của anh em với đương số. Cung này không quan trọng lắm.Nếu có nhiều cát tinh có khi còn là ý nghĩa xấu, bởi như vậy là mất hết tinh hoa của các cung khác.
12. Cung Nô Bộc
Cung này chỉ bạn bè, người dưới quyền, vợ bé. Hoàn toàn không có ý nghĩa: nếu cung Nô vượng cung mệnh suy tức là mình làm tôi tớ cho người khác.
Việc mình làm thuê hay mình hèn kém là do các cung Mệnh Tài Quan Điền Di chi phối, chứ không phải từ cung Nô.
Cung Nô cần nhất là tính hoà thuận, hỗ trợ, nên có Tả Hữu là hợp nhất, không nên gặp hung sát tinh và các sao chỉ bất hoà như Hoá Kỵ, Phá Điếu. Cung này mà nhiều sao tình duyên chứng tỏ đời sống tình ái phong phú, nhiều chi nhiều nhánh, hoặc phóng túng .
Vài sao quan trọng
1. Thái Dương, Thái Âm
Sao Thái Dương chủ về người cha, người chồng, con trai, yếu tố dương trong cơ thể đương số. Ngược lại Thái Âm chủ người mẹ, người vợ, con gái, yếu tố âm.
Âm Dương cả bộ cho biết hệ thần kinh, khả năng điều hoà, thích ứng, mối quan hệ vợ chồng, đồng thời còn là biểu tượng của đôi mắt.
Trong số các chính tinh thì Âm Dương có vẻ ngoài dễ nhìn nhất. Nét đẹp của Âm Dương sáng sủa, thanh tú. Nếu cùng với các cát tinh, đào hoa tinh thì nghiêng nước nghiêng thành.
Hai sao Âm Dương nếu được sinh vượng, hội cùng nhiều cát tinh phò tá là một sự may mắn lớn . Trong trường hợp này thì dù công danh tiền bạc, thân nhân hay hạnh phúc nói chung của cuộc đời đều được thêm phần tốt đẹp. Người có Âm Dương như vậy không bao giờ là kẻ bần cùng, cuộc sống được mức trung bình trở lên.
2. Hoá Khoa
Thật chẳng ngoa khi các nhà nghiên cứu đi trước tôn xưng Khoa tinh là Đệ nhất giải thần. Nhiều sao lúc cát lúc hung, nhưng riêng Hoá Khoa lúc nào cũng ban phúc. Đã có Hoá Khoa ở Quan hay Mệnh, hay Di, thì bất luận phú quý hay không, đều là người có trình độ, có hiểu biết, tính tình không đến nỗi tồi tệ.
Nếu Hoá Khoa được hợp cách, kết hợp cùng các sao tốt và cách cục tốt, thì nó đưa đương số đến tuyệt đỉnh vinh quang. Ý nghĩa của Khoa tinh không thiên về quyền chức, mà thiên về sự sang cả, học vấn, sự thông thái, thuộc hàng quý nhân văn chức trong xã hội. Sự thành công của Hoá Khoa trong trường hợp này là thành công đi kèm với công nhận và nổi tiếng, chứ chẳng thể là trọc phú hay anh hùng áo vải.
Cũng chính vì vậy mà Khoa tinh không nên bị hãm địa hay gặp Triệt Tuần, để đảm bảo tài năng được thi thố và thừa nhận, thi cử dễ dàng.
Khoa tinh còn biểu thị cho khả năng nghiên cứu chuyên môn, cho người đa tài, hiểu rộng, có tầm ảnh hưởng đến nhiều người.Khi giải hoạ nhờ Hoá Khoa, tai nạn được giải đi do chính nỗ lực hay phúc đức của đương số tạo ra, chứ không phải do tiền bạc, do người thân, v.v…Vì lẽ đó Khoa tinh đồng thời cũng đem lại tính cách tự chủ, có lập trường, có tự trọng mà không phải là ương ngạnh.
>>Xem thên các bài viết khác về lá số tử vi
3. Thanh Long
Tuy thường bị coi là một sao nhỏ nhưng Thanh Long lại khá quan trọng.
Nguyên do là sao này chỉ khả năng linh tính, giác quan thứ 6. Nó đồng thời biểu tượng cho quyền uy của người lãnh đạo, của bậc thần linh, với biểu tượng con rồng. Những phản vi kỳ cách nhiều trường hợp là do Thanh Long, những điểm xấu được giải hoá một cách khó hiểu cũng lại do Thanh Long.
Bạn cứ kiểm lại những lúc mình may mắn do được linh tính, do trực giác, thì sẽ biết tác dụng của Thanh Long hữu ích như thế nào.
>> Bài viết tham khảo : xem bói tình yêu, xem bói ngày sinh
4. Đào Hồng
Hai sao này luôn phải để ý trong quá trình giải số. Vì tình yêu và hôn nhân quyết định một phần lớn cảm giác hạnh phúc hay bất hạnh trong đời người . Đào Hồng vừa chỉ tình cảm, cách yêu của chính đương số, vừa là hình bóng của người yêu đương số.
Đào Hồng tốt nhất là tránh xa sát tinh, được sánh cùng cát tinh. Đào Hồng không nên tụ cùng các sao tình ái, tính dục khác vào một chỗ, vì sự thái quá này sẽ gây nên tai hoạ hay dâm dục. Các sao đó là: Mộc dục, Thai, Thiên Hỉ, Thiên Riêu, Tham Lang, Kình dương, chính tinh hãm đặc biệt là Thiên Đồng hãm. Thái Âm hãm, Thất sát hãm.
5. Quang Quý
Tương đương với Hoá Khoa về tính cứu giải, nhưng Quang Quý hiệu lực khác biệt ở chỗ nó thể hiện bàn tay của đấng linh thiêng, trời phật, thể hiện công đức tích tụ lâu dài mà có, ngoài ra tượng trưng rõ ràng nhất cho thần phật.
Quang Quý chỉ thực sự tác dụng nếu đi kèm với hình tượng thần phật hay hoạt động tích phúc trong thực tế. Liên hệ tới việc cầu cúng, làm lễ tại chùa để xin lộc, hay giải nạn.
Quang Quý còn mang ý nghĩa ơn huệ, ưu ái, ưu tiên.
6. Hoá Kỵ
Sao này đúng là “đáng gờm” mỗi khi mở số ra. Về mặt xã hội, Hoá Kỵ chủ thị phi miệng tiếng, tai bay vạ gió. Về tình cảm Hoá Kỵ là sự bất hoà, cãi vã, bực dọc ngấm ngầm về nhau. Về sức khoẻ, Hoá Kỵ biểu trưng cho bệnh tật, đau ốm lâu dài, tiêu hoá kém. Nếu cách cục xấu thì còn bị bệnh tật về mắt, phụ nữ kinh nguyệt kém .Về tính cách, Hoá Kỵ phần nhiều đa nghi, thủ đoạn.
Chỉ được mỗi một cái là nó không tác dụng nhiều lên nhan sắc. Có Hoá Kỵ vẫn có thể xinh đẹp như thường.
Hoá Kỵ không nên gặp Nhật Nguyệt, Liêm Trinh, Cự Môn. Nên gặp Thiên Tướng, Thanh Long, Lưu Hà, Hoá Khoa thì mới có thể cứu giải.
Gặp cách tốt thì Hoá Kỵ là người kín đáo, giỏi tính toán hoạch định, biết nghề y dược, có thể có thành tựu lớn trong nghiên cứu, tham mưu, luật pháp.

Cách luận lá số tử vi

Muốn lập thành một lá số Tử Vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số Tử Vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm… của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.

Để giải đoán được Tử Vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:

Trí nhớ – Tử Vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính chất của các Sao.
Suy luận – Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.

Trực giác – Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.

Kinh nghiệm – Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính xác.

Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu Tử Vi được dễ dàng, dễ hiểu và có kết quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn cụ thể để các bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của mình.

Ở trang web TuviGLOBAL.com, bạn vào top menu, vào Tử Vi => Tử vi miễn phí…. để lấy và in ra lá số. Mỗi khi điền vào các ô ngày-tháng-năm sinh theo dương lịch, chương trình lấy lá số Tử Vi sẽ tự động chuyển đổi ngày tháng và năm sang âm lịch mà không phải nhờ đến software chuyển đổi hay tra cứu Vạn Niên Lịch.
Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.

Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ

Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc .

Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp – Nhị hợp – Xung chiếu giữa các cung trong lá số Tử Vi.

Những Tiến Trình Luận Đoán Số phải theo
Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.

Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh

Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục

Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số

Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.

Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu

Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các cách gì.

Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung Mệnh và Thân.

Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp của cung Mệnh-Thân.

Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.

Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức.

Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.

Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.

Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của các sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các sao rồi đúc kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.

Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số.
Hiện tại phần “Tính lý các sao” của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare , sau khi lấy xong lá số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem thì sẽ có ngay lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.

Những cung cần phải xem

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc – Tài bạch – Tật ách – Thiên di – Điền trạch – Nô bộc.

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu – Tử tức – Phụ mẫu – Huynh đệ

Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết

Cách Giải Đoán Vận Hạn

Xem các Đại vận 10 năm của lá số

Xem Tiểu vận từng năm

Luận về cung tam hợp

Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính, hai cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng một lúc để giải đoán.

Có quan điểm còn đánh giá thứ tự ưu tiên hoặc xếp đặt ra giá trị tỷ lệ cho cung chiùnh là quan trọng nhất, thứ nhì là cung xung chiếu, thứ ba mới đến hai cung tam chiếu với cung chính và sau hết là cung nhị hợp. Sự đánh giá này nhằm phân định được các ảnh hưởng nào là trực tiếp và ảnh hưởng nào là gián tiếp để giúp cho việc giải đoán được cụ thể và đầy đủ hơn.

Riêng theo cụ Thiên Lương thì căn bản chính yếu của một cung chỉ có một cung chính và hai cung tam hợp. Cung nhị hợp (tương sinh) chỉ phụ thêm bổ túc cho cung chính. Còn cung xung chiếu (tương khắc) tuyệt đối chính là đối phương.

Dưới đây là 4 bảng Tam Hợp:

Sở dĩ không có tam hợp hành Thổ vì trong 4 tam hợp trên đều có hành Thổ làm nền tảng để cho Tứ Sinh (Dần-Thân-Tỵ-Hợi) phát nguồn bồi đắp cho Tứ Chính (Tý-Ngọ-Mão-Dậu) được đầy đủ sung túc để trở thành những hành chính trong tam hợp.

Theo Dịch học, hành Thổ là nguồn gốc phát xuất ra các hành khác, rồi tập trung về lại nguồn cội trung ương, hành Thổ phối hợp với 4 hành Kim-Mộc-Thủy-Hỏa thành 4 cục diện, là thế tam hợp căn bản của Tử Vi Đẩu Số.

Nhận xét về bảng Tam Hợp dưới đây sẽ thấy trong mỗi cục diện gồm có 3 hành, tuy khác nhau nhưng cùng liên minh với nhau thành một hành chung, để cùng các cục diện khác tranh đua biến đổi sinh khắc lẫn nhau.

Ngoài ra, theo cụ Việt Viêm Tử thì cần phải phân biệt đến hai chiều thuận nghịch theo quy lý âm dương của tam hợp cục nữa. Lấy ví dụ người có cung mệnh tại Ngọ trong tam hợp cục Dần-Ngọ-Tuất. Nếu là Dương Nam/ Âm Nữ khởi theo chiều thuận đi từ cung Dần đến cung Tuất nên những sao tam hợp đóng tại cung Dần sẽ ảnh hưởng nhiều hơn là những sao cùng tam hợp tại cung Tuất. Còn với người Âm Nam/ Dương Nữ theo chiều nghịch đi ngược lại từ cung Tuất đến cung Dần nên những sao tam hợp tại cung Tuất sẽ ảnh hưởng nặng hơn là những sao tại cung Dần.

Thuyết Âm Dương theo kinh Dịch Chúng tôi xin sơ lược tóm tắt về thuyết Âm Dương:

Theo học thuyết cổ của Trung Hoa, nguồn gốc sơ khởi của vạn vật trong vũ trụ là Thái Cực. Trong thái cực có hai động thể tiềm phục đó là hai khí Âm Dương – gọi là Lưỡng Nghi.

Âm và Dương là hai mặt tương phản đối lập, mâu thuẫn, ức chế lẫn nhau nhưng thống nhất, nương tựa, thúc đẩy lẫn nhau, trong Dương có mầm của Âm và trong Âm có mầm của Dương. Vạn vật được sinh thành và biến hóa nhờ hai khí Âm Dương này phối hợp.

Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triễn và suy tàn được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương – Thái Dương và Thiếu Âm – Thái Âm)

“Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành.” (Đổng Trọng Thư)

Tứ tượng nhờ ảnh hưởng của hai khí Âm Dương thúc đẩy và biến hóa khai sinh ra:

4 mùa – Xuân Hạ Thu Đông

5 chất gọi là Ngũ hành : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ

8 hình dạng khác nhau của vũ trụ được gọi là Bát Quái
Càn chỉ trời, Khảm chỉ nước, Cấn chỉ núi non, Chấn chỉ sấm sét, Tốn chỉ gió, Ly chỉ lửa, Khôn chỉ đất, Đoài chỉ đầm lầy.

Bài đọc thêm nói về thuyết Âm Dương:

Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hóa không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).

Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.

Để biểu thị sự biến hóa không ngừng và qui luật của sự biến hóa đó, người xưa đặt ra “thuyết âm dương”. Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thế nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật. nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hóa và phát triển của sự vật. Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.

Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm. Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được qui vào âm dương.

Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.

Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí , vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.

Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm…

Hướng Dẫn Giải Đoán Vận Hạn

Muốn giải đoán được vận hạn của đời mình, cần phải theo các nguyên tắc được hướng dẫn sau:

Những Nguyên Tắc Căn Bản

Quan sát gốc Đại hạn 10 năm

Quan sát lưu Đại Vận từng năm

Quan sát lưu niên Tiểu hạn 1 năm

Nhận Định về Hạn

Liên hệ giữa Đại hạn và Tiểu hạn
Đại hạn 10 năm tốt đẹp nhưng bị Tiểu hạn một năm xấu thì cũng không đáng quan ngại vì ảnh hưởng tốt của đại hạn đã giải trừ được những sự xấu của Tiểu hạn. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.
Đại hạn 10 năm xấu nhưng được Tiểu hạn một năm tốt thì sự tốt đẹp của Tiểu hạn cũng bị giảm bớt.

Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn
Mệnh Thân và Hạn tốt – Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.
Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu – Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.
Mệnh Thân xấu được Hạn tốt – Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.
Mệnh Thân và Hạn xấu – Rất xấu như sinh bất phùng thời.

Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn
Nam Đẩu Tinh nhập hạn – Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.
Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương – Thiên Cơ – Thiên Đồng – Thiên Lương – Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Riêng hai chính tinh Tử Vi và Thiên Phuû là Nam Bắc Tinh
Bắc Đẩu Tinh nhập hạn – Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu của Đại và Tiểu vận.
Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm – Vũ Khúc – Tham Lang – Liêm Trinh – Phá Quân và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Ảnh hưởng của Sao nhập hạn

Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm

Đại Tiểu Hạn trùng phùng
Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.
Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 23-32 tuổi

Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm)

Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó-khăn để rồi đi xuống.

Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận nhập hạn:

Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận – đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.

Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp … thì vẫn được lên nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà thôi.

Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi – được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.

Thí duï: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận – bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúp-đỡ.

Thí duï: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sữu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)

Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi – khắc ngược rất xấu, cần phải có được nhiều sao tốt để cứu giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)

Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm)
Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn :

Tương-Sanh – sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.
Thí dụ người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương sinh.

Tương-Khắc – sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.
Thí duï người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.

Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là cách “tuyệt xứ phùng sinh” rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)

Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm)

Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và Địa-lợi nhưng không được phần “Nhân-hòa” thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên ngoài.

Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:

Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.

Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may.

Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thành-công thì cần phải có tối thiểu:

– Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
– Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh
– Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
– Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý

* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-Liêm-Tham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.

Luận về Lưu niên đại hạn

Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.

Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:

Dương Nam – Âm Nữ : Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.

Âm Nam – Dương Nữ : Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm)

Trong lá số Tử Vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão …) theo chiều nam thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người – ví dụ năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn …

Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.

Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vaø ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.

So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)

So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)

So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ đắc thất.

So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.

Phụ luận :

Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.

Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.

Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) – trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có Thương cung Nô và Sưù cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.

Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.

Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặêp Thương trước).

Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách

Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn …

Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.

Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.

Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.

Nếu năm nhập hạn trong lá số Tử Vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Sao hạn Cửu Diệu :

Ảnh hưởng của Cửu Diệu tinh

La Hầu – còn gọi là Khẩu thiệt tinh, là sao xấu ảnh hưởng nặng cho Nam giới và người mạng Kim, phái Nữ thì ảnh hưởng nhẹ. Thường gây ra những trở ngại bất trắc, bệnh tật, khẩu thiệt, thị phi miệng tiếng. Hạn sao này cần phải dè dặt cẩn thận. Ảnh hưỡng vào các tháng giêng và tháng 7.

Thổ Tú – còn gọi là Thổ Đức tinh hay Ách tinh chủ gia đạo bất an buồn phiền, bệnh hoạn hay kéo dài, tiểu nhân phá phách, đi xa bất lợi. Hai tháng 4 và 8 bất lợi.

Thủy Diệu – còn gọi là Thủy Đức tinh là Phúc lộc tinh chủ bình an, giải trừ tai nạn, đi xa có lợi, Phụ nữ bất lợi về đường sông biển. Ảnh hưỡng vào các tháng 4 và tháng 8. Người mạng Kim và Mộc hợp với hạn sao này, riêng người mạng Hỏa thì hơi bị khắc kỵ.

Thái Bạch – còn gọi là Kim Đức tinh, là hung tinh chủ về sự bất toại tâm, xuất nhập phòng tiểu nhân, hao tán tiền bạc, bệnh tật nảy sinh. Phòng tháng 5 xấu, nhất là những người mệnh hỏa, kim và mộc.

Thái Dương – Phúc tinh chủ sự hanh thông, cứu giải nạn tai. Với Nữ giới thì công việc vẫn thành công nhưng rất vất vả. Tốt vào các tháng 6 và 10.

Vân Hán – còn gọi là Hỏa Đức tinh là Tai tinh chủ hao tài, khẩu thiệt và tranh chấp, kiện tụng bất lợi. Đề phòng những rủi ro bất ngờ. Tháng 4 và 8 xấu.

Kế Đô – được ví như bà hoàng hậu khắc khe, là sao xấu ảnh hưởng nặng nơi phái Nữ, riêng những người có thai hay sinh đẻ trong hạn sao này thì ít bị ảnh hưởng. Gặp hạn sao này những mưu sự thường gặp khó khăn, thành ít bại nhiều, phòng thị phi, đau ốm hay tai biến bất ngờ. Sao Kế đô dù ít ảnh hưởng tới Nam giới nhưng ít nhiều cũng có tác dụng không thuận lợi. Phòng tháng 3 và tháng 9

Thái Âm – Phúc tinh chuyên cứu giải bình an, tốt cho Nữ số. Sao Thái Âm nhập hạn là tài tinh đem lại nhiều may mắn về tài lộc nhưng mang tính chất bất thường, thời vận hay thăng trầm.

Mộc Đức – Phúc tinh chủ may mắn, gặp thời vận tốt. Sao Mộc đức cũng là một phúc tinh cứu giải nên trong trường hợp dù gặp khó khăn gì vẫn có quý nhân giúp sức vượt qua. Tháng 10 và 12 tốt, riêng người mạng Kim thì bất lợi đôi chút vì không hợp với hạn sao này.

Năm hạn trong lá số Tử Vi tốt mà gặp Cửu Diệu tinh nhập hạn tốt thì lại càng tốt thêm. Nếu gặp hạn sao xấu mà năm nhập hạn trong lá số tốt thì sao hạn xấu sẽ được giảm bớt. Ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm Cửu Diệu tinh nhập hạn xấu thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.

Luận về Tuần (hỏa) / Triệt (kim)

Tuần Trung Không Vong là cây cầu nối tiếp giữa hai giai-đoạn, kiềm hãm bớt từ từ lại, là trung gian kiềm chế, không cho quá trớn.

“Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá”

Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không cho xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt) , mà còn phá đổ tất cả những gì trong cung bị nó phong tỏa.

“Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng”
(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi diệu, đại hữu kỳ công)

Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu của Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cát-tinh trở thành Hung-tinh và ngược lại.

Tuần-Triệt có thể làm cho bộ SPT thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể biến đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.

Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng các sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi tư-cách.

Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tam-hợp Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu (nếu gặp SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những tham-vọng và hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao tư-cách không kém gì những người tam-hợp Thái-tuế.

Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó mà thôi.

Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung Âm 30%

Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung Âm 20%

Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thực-hiện công-việc.

Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần-Triệt phá nhau để cho đương-số được thong-thả.

Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:

Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần hay Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài năm (bất chấp đến vòng Thái-tuế).

Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có một Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm hai lần chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5 năm).

Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi đến đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.

Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lương, thật ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt hiện còn đang là những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người có lối tiếp thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.

Luận về Thiên Mã (hỏa)

Thiên Mã trong Tử-vi là một viên ngọc quí, viên ngọc quí này chỉ thấy ở trong hoàn-cảnh trái nghịch mà số đã xếp đặt cho người cung Mệnh hay Thân nằm trong tam-hợp Tuế-phá (bất mãn, đối kháng) của vòng Thái-tuế.

Thiên-mã là nghị-lực và khả-năng để giúp cho những người bất-mãn này đương đầu với những ngang-trái của tâm-thức và cuộc đời mà họ phải chịu. Đây chính là hình bóng một Tống Giang, một Đơn Hùng Tín, anh hùng hào hiệp chỉ phù suy chứ không tơ hào đến người thịnh. Còn tùy theo Thiên-mã có phải là của họ hay không mới là việc thành-bại quyết định.

Thiên Mã chủ tháo vát, tài năng và khéo léo. Ảnh hưởng nhiều đến công danh, sự nghiệp. Ngoài ra Thiên Mã còn chủ về sự di chuyển, thay đổi, đi xa và là phương tiện di chuyển như xe cộ, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị xe cộ hay hư hỏng hoặc tai nạn.

Về cơ thể con người Thiên Mã là tứ chi, nếu gặp Sát tinh tùy theo mức độ nặng nhẹ dễ bị thương tật.

Hành chính của Thiên Mã là hỏa, nhưng vì là dịch mã nên Mã đổi ngũ hành tùy theo phương vị Mã đóng, muốn làm chủ được Mã này thì bản mệnh phải đồng hành với cung Mã đóng thì mới có kết-quả được

Mã ngộ Tuần = Tuần là gạch nối liền giữa hai Giáp bắt cầu cho Mã trở nên đắc dụng. Tuy-nhiên Mã phải chùng lại một bước trước khi nhảy thì mới được thành-công, có nghĩa là vào giai đoạn đầu vẫn gặp những khó khăn, trở ngại nhưng rồi sau sẽ được hanh thông, nếu Thiên Mã hợp Mệnh, còn Mã ngộ Triệt là ngựa què ăn hại.

Người dương-nam – âm-nữ đại vận an theo chiều xuôi :

Mã mộc cung Dần gặp Tuần trở thành Mã hỏa

Mã hỏa cung Tỵ vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi

Mã kim cung Thân gặp Tuần trở thành Mã thủy

Mã thủy cung Hợi vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi

Người âm nam – dương nưõ đại vận an theo chiều ngược :

Mã mộc cung Dần vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi

Mã hỏa cung Tỵ gặp Tuần trở thành Mã mộc

Mã kim cung Thân vì Tuần đứng sau nên không chuyển đổi

Mã thủy cung Hợi gặp Tuần trở thành Mã kim

Thí dụ tuổi Kỷ Tỵ (Mệnh mộc) Mã tại cung Hợi ngộ Tuần đóng hai cung Hợi và Tuất. Nếu là người âm nam đại vận theo chiều nghịch thì Mã thủy sẽ theo cầu Tuần về lại cung Thân trở thành Mã kim khắc lại Mệnh mộc xấu. Còn với người âm nữ đại vận theo chiều thuận Tuần đóng sau lưng không thể bắt cầu cho Mã chạy nên Mã thủy sẽ sinh phò cho Mệnh mộc rất tốt.

Những cách tốt của Thiên Mã

Mã đắc Tràng-sinh = là giai-đoạn phát thịnh của tam-hợp Tuế-phá, Mã phải nằm trong tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ thì mới được gọi là thanh vân đắc lộ nhưng chỉ hanh-thông trong đại-vận đó mà thôi và còn tùy thuộc vào Hành của Mã phù hay hại Mệnh nữa.

Mã-Khốc-Khách = Mã phải nằm trong tam-hợp Lộc-Tồn dành cho các tuổi Giáp/Thìn-Tý-Thân và Canh/Tuất-Ngọ-Dần. Phần ngoại-lệ này ban phát cho người được nhiều nghị-lực bền bỉ, tùy theo sự sinh-khắc của bản mệnh đối với Mã (sử-dụng và làm lợi).

Những cách xấu của Thiên Mã

Mã kỵ gặp Không Kiếp, Kình-Đà, Thiên-hình và Triệt là ngựa què, ngựa chết dễ bị trở ngại hay tai họa.

Mã ngộ Tuyệt = Người mệnh kim-hỏa và thổ / dương nam hay âm nữ, mệnh có Thiên Mã gặp Tuyệt (sao cuối cùng của vòng Tràng Sinh) tại cung Hợi là cách “Mã cùng đồ” ngựa cùng đường, hết lối chạy chỉ sự bế tắc và thất bại.

Luận về bộ sao Tứ Hóa

Hóa-khoa (thủy) – văn-tinh chủ về phúc-quý, là Đệ Nhất Giải Thần hoán cải được tư-cách SPLT và ngộ chế được Thiên-không, Lục-sát-tinh.

Hóa-quyền (mộc) – trung-lập chủ về uy-quyền và may-mắn, hay vụng tính sinh kiêu vì tự ái nên gặp Sát-tinh dễ bị kết-quả xấu

Hóa-lộc (mộc/thổ) – tài lộc do công khó làm ra, tăng ảnh-hưởng cho Tài-cát-tinh và tốt cho cung Điền-Tài.

Hóa-kỵ (thủy) – ám tinh hay đố kỵ, là sao Kế-đô của nữ mệnh. Giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh, tăng ảnh-hưởng xấu của Sát-tinh.

Tam Hóa được áp đặt vào những chính-diệu theo hàng Can tuổi để đem lại sự hảnh-diện và phú quý cho người được hưởng. Giá-trị thật sự của Tam-hóa chỉ là gấm thêu hoa cho những bộ Chính-tinh dắc cách mà thôi chứ không phải là tư-cách, khả-năng và nghị-lực dùng để nâng cao phẩm-giá thực-sự cho người chính phái.

Nhận xét bảng tóm luận trên, các tuổi Ất-Bính-Kỷ-Nhâm-Quý được những sao đầy-đủ tư-cách hiền-lương nhân-hậu hẳn con thuyền khi ra khơi ít gặp phong ba bão lớn. Còn thuận buồm suôi gió hay không tùy thuộc ở hàng Chi (vòng Thái tuế) và giòng nước theo chiều cuộc diện (vòng Tràng-sinh).

Cách Tam hóa liên châu – ba sao đóng liên tiếp ba cung từ cung Dần đến Mùi / đắc vị nhất tại cung Thìn được dành cho 6 tuổi Ất/Tỵ-Dậu-Sửu (Khoa giáp Quyền-Lộc tại vị-trí Thiếu-âm) và Canh/Thân-Tý-Thìn (Quyền giáp Khoa-Lộc tại vị-trí Thái-tuế), còn các tuổi Ất-Canh khác chỉ là vay mượn mà thôi

Thiên Tài & Thiên Thọ (thổ)

Thiên Tài có ý nghĩa là tài năng, đo lường cắt giảm, vì thế nên Tài có đặc tính như Tuần Không là giảm ảnh hưởng xấu của các sao mờ ám và giảm bớt ảnh hưởng tốt của các sao sáng sủa.

Thiên Thọ là Phúc Thọ tinh chủ nhân hậu, từ thiện và gia tăng ảnh hưởng cho các phúc thọ tinh.

Ngoài những tính chất kể trên, Tài Thọ còn tượng trưng cho đạo lý Nhân Quả của đời người. Tài được khởi từ cung Mệnh (định mệnh thừa trừ mà cắt giảm) và Thọ được khởi từ cung an Thân (bản thân tự gây tạo) đến một cung nào đó để mách bảo cho biết là giữa Mệnh Thân và cung mà Tài hay Thọ đến đóng đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên.

Thân (Thiên Thọ / Nhân) = cá nhân tự gây tạo, tùy theo vị trí “Thân” để quyết định hành động theo cung mà Thiên Thọ đóng.

Mệnh (Thiên Tài / Quả) = định mệnh thừa hành mà cắt giảm, chịu ảnh hưởng cân quả do Thọ đã làm ra, tại cung có Thiên Tài đóng.

Nếu như Thân (tam hợp Thái Tuế) có làm ra “Thọ” hay cư xử sao cho “Thọ” được toàn vẹn thì Mệnh mới có đủ “Tài” năng lực hoán cải tạo ra những sự tốt đẹp để đền đáp. Còn như Thân xuất phát chử “Thọ” bị Không-Kiếp hãm thì Mệnh “Tài” kia cũng sẵn sàng đem lại những kết quả là hình thức như tranh vẽ mà thôi.

Người đời nhập thế ở khoảng thời gian nào thì sẽ thấy căn quả của mình phải mang nặng ở ngay phần việc nào như:

Năm Tý (Tài ở Mệnh) căn quả do chính bản thân mình

Năm Sửu (Tài ở Phụ) phải làm sao với Đấng sinh thành

Năm Dần (Tài ở Phúc) căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ

Năm Mão (Tài ở Điền) căn quả chịu ảnh hưởng về nhà cửa điền sản

Năm Thìn (Tài ở Quan) căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm

Năm Tỵ (Tài ở Nô) căn quả chịu ảnh hưởng nơi bạn bè, kẻ dưới tay

Năm Ngọ (Tài ở Di) căn quả chịu ảnh hưởng nơi ngoại nhân

Năm Mùi(Tài ở Ách) căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn

Năm Thân (Tài ở Tài) căn quả chịu ảnh hưởng do tiền của thâu hoạch

Năm Dậu (Tài ở Tử) căn quả chịu ảnh hưởng nơi con cháu

Năm Tuất (Tài ở Phối) căn quả chịu ảnh hưởng ở vợ chồng

Năm Hợi (Tài ở Bào) căn quả chịu ảnh hưởng nơi anh em

Các cách tốt xấu của Thiên Tài

Thiên Tài + Nhật hay Nguyệt = Thiên Tài khi đồng cung với Nhật hay Nguyệt hãm sẽ gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt và sẽ làm giảm sự quang huy của Nhật Nguyệt một khi bộ sao này sáng sủa tốt đẹp. Trường hợp Nhật Nguyệt đồng cung thì T