3 vật xui xẻo tuyệt đối không trang trí trong nhà

Tiền xu dễ lôi kéo ma quỷ, quần áo cũ dễ mang tới điều chẳng lành nếu bạn thường xuyên để chúng trong nhà.

1. Tiền xu
Không ít người cho rằng, tiền xu là vận cát tường, mang lại nhiều phúc khi. Tuy nhiên, nó chỉ đúng khi bạn mang theo tron người. Trường hợp bày biện tiền xu trong nhà sẽ mang lại vận xui cho chủ nhân, đặc biệt là tăng âm khí, dễ lôi kéo ma quỷ.
xui xeo1

2. Cây xương rồng
Từ xa xưa, các thầy bói đã biết dùng tiền xu để phục vụ công việc bói toán, xem âm dương. Do đó, theo quan điểm phương Đông, tiền xu có thể tập hợp các linh hồn lại với nhau. Nếu không muốn có thêm nhiều “vị khách vô danh” tới thăm, bạn cần bỏ sở thích tích trữ và trưng bày tiền xu trong nhà nhé.
Bày biện cây xanh là cách tạo phúc khí tốt lành. Tuy nhiên, không phải loại cây nào cũng phù hợp để trang trí trong nhà.

xui xeo2
Theo Phong thủy học cổ xưa, xương rồng là loại thực vật rất dễ sống trong mọi hoàn cảnh. Nó chỉ phát huy tác dụng trong trường hợp ngôi nhà vừa mới bị hỏa hoạn hoặc có tang. Sức sống mãnh liệt của loài cây này sẽ làm giảm âm khí, xua đuổi tà ma. Do đó, xương rồng bị liệt vào danh sách vật trưng bày xui xẻo cho ngôi nhà.
Nếu yêu thích xương rồng, bạn có thể đặt chúng ở ngoài ban công. Tốt nhất, bạn chỉ nên dùng hoa lan hoặc hoa hướng dương để tăng vận khí tốt lành nếu muốn trang hoàng nhà cửa.
3. Quần áo cổ
Không ít gia đình thích bày biện đồ cổ, đặc biệt là quần áo cũ của người cổ xưa trong nhà. Điều đó không mang lại may mắn, thậm chí còn tạo xui xẻo cho chủ nhân. Bởi quần áo cũ chứa âm khí của người đã khuất còn vương lại.
(Theo ione)

Biểu tượng phong thủy: Tranh chim bồ câu

Chim bồ câu tượng trưng cho hoà bình, đó là điều cả thế giớ công nhận. Chim bồ câu trở thành biểu tượng cho hoà bình có thể coi là sáng tạo của hoạ sỹ người Tây Ba Nha Picasso.

Biểu tượng phong thủy: Tranh chim bồ câu

Tháng 11 năm 1950, để kỷ niệm đại hội Thế giới Hoà bình của các nước Xã hội chủ nghĩa diên ra ở Vacsava (thủ đô của Ba Lan), hoạ sỹ Picasso đã vẽ bức tranh một con chim bồ câu đang tung cánh.

Khi đó, thi nhân nổi tiếng người Chilê là Pablo Nenida đã gọi tên bức tranh là Bồ câu hoà bình. Từ đó, chim bồ câu được xem là sứ giả hoà bình thế giới.

Một trong những thuyết của người Châu Á cho rằng: “Hãy sử dụng những biểu tượng phong thủy qua các bức tranh nghệ thuật, tranh vẽ…trong phòng khách. Năng lượng của chim sẽ giúp ta lấy được sự trong sáng, niềm cảm hứng và chúc may mắn cho chính bản thân mình”.

Chim bồ câu còn tượng trưng cho niềm vui, trong các dịp lễ tết người ta thường thả chim bồ câu để thể hiện niềm vui và nguyện cầu sự bình an.

Bồ câu là một loài chim tình nghĩa. Người nuôi chim để thử lòng thường mang bồ câu đến một nơi thật xa để thả, để cho chim tự tìm đường về, chim bồ câu luôn tìm về đúng ngôi nhà của mình. Do vậy, bồ câu còn tượng trưng cho lòng trung trinh, mang biểu tượng hạnh phúc.

Đây sẽ là món quà cưới thật tuyệt vời để dành tặng cô dâu trong ngày cưới, cầu chúc bình yên và tình yêu bền chặt của vợ chồng.

Cách sử dụng:

Bức vẽ chim bồ câu nên treo ở những vị trí cát lợi của ngôi nhà.

Chim bồ câu mang tính của loài chim. Do vậy những người cầm tinh loài rồng, rắn, trâu ( người tuổi Thìn, Tỵ, Sửu ) tương hợp với loài chim, thích hợp treo bức tranh này.

Những người cầm tinh con mèo, chó, gà ( người tuổi Mão, Tuất, Dậu) tương khác với loài chim, không nên treo.

Bồ câu vốn mang thuộc tính của loài chim, do vậy không nên treo tranh ở hướng chính Đông của ngôi nhà. Đó là vị trí tương xung với loài chim.

Nên treo tranh ở hướng Đông Nam, Đông Bắc thì phù hợp. Hoặc treo ở hướng chính Tây là phương vị tương hợp của loài chim.

Đĩa thất tinh trận đồ

“Thất tinh bắc đẩu trận đồ” là 1 vật phẩm, pháp khí phong thuỷ, được đặt trên bàn làm việc để trấn sát, trị tà, thu hút vượng khí cho chủ nhân. Giới doanh nhân coi Đĩa thất tinh là bùa chú cầu may, bởi tác dụng kỳ diệu mà nó mang lại cho công việc làm ăn của họ.

 

Giới doanh nhân coi Đĩa thất tinh là bùa chú cầu may, bởi tác dụng kỳ diệu mà nó mang lại cho công việc làm ăn.
Thất tinh trận dùng 6 viên thủy tinh hoặc trụ thủy tinh bày tại các vị trí đối diện nhau tại vòng ngoài trên hai hình tam giác đặt chéo nhau. Chiều dài của hình tam giác phải là bội số của 7. Ở chính tâm đĩa đặt một viên (hoặc tháp) lớn, hình thành “Tinh Hình”, như vậy gọi là Thất Tinh Trận. Viên ở giữa sẽ thu nhận năng lượng từ trường của 6 viên xung quanh và phát huy tối đa nguồn năng lượng này.

7 viên cầu (hay tháp trụ) bằng đá này tượng trưng cho 7 vì tinh tú, đặt trên đĩa tượng trưng bầu trời. Vì sao to nhất đặt chính giữa là mệnh chủ nhà, còn 6 vì sao xung quanh là bảo vệ cho mệnh chủ. Người ta chọn màu viên đá ở giữa là màu tương sinh hoặc tương hợp với mệnh chủ, còn 6 viên vòng ngoài có thể chọn theo các màu sắc ngũ hành: Kim (trắng), Mộc (xanh lá cây), Thủy (đen), Hỏa (đỏ), Thổ (vàng).

Thông thường, bạn sẽ bắt gặp Đĩa thất tinh là đá Thạch Anh – loại đá linh nghiệm nhất trong phong thủy. Tương ứng với mỗi loại đá thạch anh khác nhau mà người ta có thể bày ra các thất tinh trận khác nhau.

Chúng tôi xin giới thiệu một số trận đồ được xếp từ các quả cầu thạch anh tương hợp với chủ nhà các mệnh khác nhau để bạn đọc tham khảo.

Trận thứ nhất


– Dùng cho mệnh Kim (Tương hợp)
– Dùng cho mệnh Thủy (Tương sinh)

Trận thứ 2

– Mệnh Thổ được (Tương hợp – Thổ hợp Thổ)
– Mệnh Kim được (Tương sinh – Thổ sinh Kim)

Trận thứ 3

dia that tinh tran 3 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Cũng giống trận thứ hai (màu Nâu và Vàng đều là Thổ): hợp mệnh Thổ, Kim

Trận thứ 4

dia that tinh tran 4 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Giống hai trận trên (Mệnh Thổ và Kim)

Trận thứ 5 – Mệnh Thổ và Kim

dia that tinh tran 5 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Trận 6 – Hỏa và Thổ

dia that tinh tran 6 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Trận 7 – Mệnh Mộc và Hỏa

dia that tinh tran 7 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Trận 8 – Mệnh Thủy và Mộc

dia that tinh tran 8 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

Trận 9 – Mệnh Thổ và Kim

dia that tinh tran 9 Đĩa Thất Tinh trận đồ – Vật Phẩm Phong Thủy luôn sát cánh cùng Doanh Nhân

 

Nguồn: internet

Ý nghĩa và cách đặt tranh , tượng , hồ lô Bát Tiên trong phong thủy

Truyền thuyết Đạo Lão nói rằng Bát Tiên đều đã nếm qua rượu và đào tiên nên bất tử và được coi là biểu tượng của sự trường sinh và những điềm lành.

Tranh vẽ Bát Tiên
Tám vị tiên này thường được vẽ trên các tác phẩm gốm sứ của Trung Hoa để tượng trưng cho sự may mắn. Hình ảnh của họ còn được chạm trổ trên những tấm kim loại mỏng.

Thường gặp nhất là hình ảnh “bát tiên quá hải” hoặc là từng vị được chạm trổ trên ngà voi, gỗ và hồ lô đồng. Trong ngành học văn hóa truyền thống của Trung Hoa, cũng có những so sánh tám vị tiên đạo Lão này với mười tám vị La Hán trong Phật giáo.
Tượng Bát Tiên
Tám vị tiên của đạo Lão và mười tám vị La Hán của Phật giáo nắm giữ những quyền năng siêu nhiêu và có phép thuật. Sự hiện thân của những vị này trong các biểu tượng đặt trong nhà, chẳng hạn một bức tranh, pho tượng được tin rằng sẽ ban tặng sức khỏe, niềm hạnh phúc và may mắn đến cho gia chủ.


Vì mỗi vị tiên đại diện cho những hoàn cảnh sống đặc biệt khác nhau, đồng thời nắm giữ những quyền năng riêng nên nếu muốn đặt một vị trong nhà thì bạn nên biết rõ ý nghĩa của từng vị.
Bảng tóm lược ý nghĩa và phương vị của Bát Tiên.
Hồ lô bát quái đồ và Bát Tiên kết hợp


Đầu tiên là vị tiên Chung Ly Quyền (Han Zhong Li), hiệu là Vân Phòng, làm Đại tướng trong triều đình nhà Hán nên còn được gọi là Hán Chung Ly hay Hớn Chung Ly. Ông có hình dáng mập mạp, trong chiếc áo phanh trần, để lộ chiếc bụng tròn, tay phe phẩy chiếc quạt thần dùng để cứu người bệnh.
Khi mới sanh Chung Ly Quyền, cha mẹ ông thấy có điềm khác lạ là trên nóc nhà hào quang sáng đỏ. Chung Ly Quyền tượng trưng cho sức khỏe và quyền năng chữa bệnh. Có vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho các thành viên trong gia đình tận hưởng môt cuộc sống khỏe mạnh, lâu dài.
Vị tiên thứ hai là Trương Quả Lão (Zang Guo Lao), tay mang một nhạc cụ giống như ống tre. Ông nắm giữ sự thông thái của tuổi già và có khả năng tự biến mất. Ông được tôn trọng như một nhà hiền triết ban sự thông thái, minh mẫn cho những người cao tuổi trong gia đình.
Vị tiên thứ ba là Lã Động Tân ( Lee Dong Bin), một học giả ẩn dật được tôn sùng như thần hộ mệnh của những người bệnh. Ông thường mang sau lưng một thanh kiếm phép để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ và loại bỏ những loại bỏ những đau khổ do các nguồn năng lượng xấu gây ra. Ở cánh tay phải, ông cầm một cây phất trần thường để chữa bệnh.
Có mặt trong nhà, ông sẽ giúp cho mọi thành viên của gia đình tránh được bệnh tật mà theo Phong Thủy là do những âm hồn và âm khí tạo ra.
Vị tiên thứ tư là Tào Quốc cữu (Chao Gu Jiu), em ruột của Tào Thái hậu, đời vua Tống. Thường mặc một chiếc áo nhà quan quý phái, ông toát ra một sự cao quý, thanh nhã. Ông giơ cao trong lòng bàn tay trái một bộ castanet để đem lại quyền cao chức trọng cho người trưởng tộc của gia đình. Những chính trị gia hoặc những cầu mong quyền lực nên thỉnh ông về thờ trong nhà.
Vị tiên thứ năm là Lý Thiết Quả (hay còn được gọi là Thiết Quải – cây sắt) ( Lee Tie Guai) , trông như một kẻ ăn mày, nhưng là người có thể thi triển những quyền năng siêu nhiên. Ngài họ Lý, tên là Huyền, hiệu là Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tinh tình hào sảng, học rộng biết nhiều, không mộ công danh, muốn đi tu tiên.
Biết được Lão Tử đang dạy dạo trên Hoa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến xin học. Chính vì thế mà hình ảnh của ngài tượng trưng cho trí tuệ và sự sáng suốt.
Tiên ông thứ sáu là Hàn Tương Tử (Han Xiang Zi), người đã sáng tác ra những bản nhạc êm dịu từ ống sáo thần. Tiếng sáo thu hút những điềm lành bao quanh ông, vì thế mà tất cả muông thú, côn trùng, cây cỏ đều phát triển mạnh mẽ khi ông xuất hiện. Khả năng đặc biệt của Hàn Tương Tử là có thể làm cho cây cối mọc nhanh trong tích tắc. Hình ảnh Hàn Tương Tử với rất nhiều những mầm cây trong chiếc bao tải đeo sau lưng tượng trưng cho một cuộc sống viên mãn.
Vị tiên tiếp theo là Lam Thể Hòa (Lan Chai He) tương truyền do Xích Cước Đại Tiên đầu thai xuống trần, nên còn nhớ tánh cũ, thường mặc áo rộng xanh, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo đơn mà không biết lạnh.
Thường ngày, ông cầm cặp sanh dài, đi ra chợ, vừa ca vừa nhịp, để xin tiền bố thí. Những bài ca do ông tự đặt ra đều có ý khuyên đời bỏ dữ theo lành. Tiền xin được, ông cột vào dây lưng và bố thí cho người nghèo khổ. Tuy nhiên, trong rất nhiều tài liệu khác nhau thì cho rằng Lam Thể Hòa là một vị tiên nữ với biểu tượng là giỏ hoa, mang đến sức khỏe và niềm vui cho gia đình.
Vị tiên cuối cùng có tên là Hà Quỳnh hay Hà Tiên Cô (He Xiang Gu) quê ở huyện Tăng Thành, tỉnh Quảng Châu. Khi còn bé, vị tiên này có sáu cái xoáy trên đầu mà ai cũng cho là kỳ tướng. Sau khi thành tiên, Hà Tiên Cô thường cầm hoa sen linh thiêng và cây phất trần. Thờ bà trong nhà thì những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình sẽ hạnh phúc và gặp nhiều may mắn.
Nếu có điều kiện bày tám vị tiên cùng nhau theo tám hướng, như bảng ở phần sau:
– Chung Ly Quyền, hướng Đông, tính Mộc.
– Trương Quả Lão, hướng Bắc, tính Thủy.
– Lã Động Tân, hướng Tây Bắc, tính Kim.
– Tào Quốc Cữu, hướng Đông Bắc, tính Thổ.
– Lý Thiết Quải, hướng Nam, tính Hỏa.
– Hàn Tương Tử, hướng Đông Nam, tính Mộc.
– Lam Thể Hòa, hướng Tây, tính Kim.
– Hà Tiên Cô, hướng Tây Nam, tính Thổ.

 

sưu tầm

Tháp Văn Xương – Vật khí nhỏ nhưng công năng lớn

Tháp Văn Xương là một vật rất thường dùng trong Phong Thủy, có lợi cho học tập, thi cử và thăng tiến sự nghiệp.


Ở Trung Hoa cổ đại, công danh thường rất được coi trọng, người học chữ nghĩa được tôn kính, hoạc tập thi đỗ làm Quan đi vào bộ máy công quyền có thể nói là con đường duy nhất để một thứ dân bước chân lên bậc thang danh vọng của Xã Hội.

Có câu nói “Một người làm Quan, cả họ được nhờ” bởi thế không chỉ lợi ích cho cá nhân hoặc gia đình người ấy, mà cả họ, cả làng, cả Huyện đều sẽ rất vinh dự nếu có được một hoặc nhiều nhân vật đỗ đạt làm Quan. Đi khắp nơi hiện nay trên đất nước Trung Quốc, chúng ta đều dễ dàng gặp nhiều vùng có các ngọn tháp 9 tầng hoặc 7 tầng được xây dựng độc lập hoặc nằm trong một cảnh Chùa, Miếu, Đạo Quán

Trong thực tế các ngọn tháp này không hề được dựng một cách tùy hứng, mà nó được đặt sau khi đã xem xét kỹ thế đất và phương vị. Với một mục tiêu chủ yếu là Trấn Nhậm và Thúc Đẩy Văn Xương. Văn Xương hay Văn Xương Đế Quân là vì sao chưởng quản việc học tập, thăng tiến trí tuệ của con người theo quan điểm của Chiêm Tinh Thuật Số cổ đại.

Quan điểm này có vẻ mang tính Huyền Bí, nhưng trên thực tế khoa học hiện đại cũng chứng minh được khả năng thu hút và tụ tập luồng năng lượng Vũ Trụ của các đỉnh cao nhọn. Chính vì thế mà các Kim Tự Tháp, Cột Obelic, Tháp Văn Xương đều được cho cóp tác dụng bổ trợ năng lượng cho con người.

Đặt Tháp Văn Xương quan trọng nhất là tìm được vị trí Văn Xương. Phong Thủy Học có nhiều cách tính Văn Xương, Bát Trạch lấy cung vị Sinh Khí làm Văn Xương, Huyền Không lấy hướng của các sao 1 – 4 làm Văn Xương, Tử Vi tính Văn Xương – Văn Khúc, Tử Bình dùng Thiên Can tính Văn XươngTính Văn Xương căn cứ theo nhà ở, chỗ làm, công sở …

st

Ngũ Đế trị Ngũ Quỷ

Trong Huyền Học Mệnh Lý của phương Đông thường có một khái niệm được định danh Ngũ Quỷ, Ngũ Quỷ có nhiều cách tính có thể căn cứ vào Tuổi, như tuổi Tý gặp năm Thìn là Ngũ Quỷ …

1. Phạm Ngũ Quỷ:
Trong Huyền Học Mệnh Lý của phương Đông thường có một khái niệm được định danh Ngũ Quỷ, Ngũ Quỷ có nhiều cách tính có thể căn cứ vào Tuổi, như tuổi Tý gặp năm Thìn là Ngũ Quỷ … Sửu gặp năm Tỵ là Ngũ Quỷ … Dần gặp năm Ngọ là Ngũ Quỷ. Hoặc cũng có thể xét theo Bát Tự Tử Bình, sinh ngày Ngọ mà trong Tứ Trụ gặp chữ Tuất là phạm Ngũ Quỷ.

Hoặc có thể căn cứ theo Cung Mệnh Quái (Phi Cung) để biết có hay không phạm vào Ngũ Quỷ. Như nếu cung Mệnh là Tam Bích Chấn, mà dùng hướng Càn là phạm Ngũ Quỷ, hoặc cung Khôn mà ở vào cung Tốn là phạm Ngũ Quỷ … cũng có thể so đôi tuổi với người hợp tác để biết có phạm hay không Ngũ Quỷ.

Ngũ Quỷ thường ứng với tốc phát tốc phá, sự đến bất thường đột nhiên … Do tính của Ngũ Quỷ là Âm Hỏa Liêm Trinh nếu điệp điệp trung Sinh được gọi là Ngũ Quỷ Vận Tài, nếu bị nó khắc phạm được gọi là Ngũ Quỷ Khiếu Hồn !

Thông thường người ở vào các tuổi âm lịch, 17, 29, 41 … 53 đều là phạm Ngũ Quỷ ! đây chính là câu “49 chưa qua 53 đã tới !” bởi 49 tuổi là phạm Thái Tuế mà 53 tuổi là phạm Ngũ Quỷ. Lại có câu “Ngũ Quỷ sao hung 5 cái đầu … Mười người gặp nó 9 người sầu !”

Ngũ Quỷ thường ứng vào phá tài, vì bạn bè mà dây dưa mất tiền kiện tụng rắc rối, hoặc bị tiểu nhân lôi kéo bè lũ ám hại … hoặc bị các chứng bệnh về Phổi, Gan, Máu Huyết …

2. Ngũ Đế Tiền:
Ngũ Đế Tiền là chỉ Tiền của 5 đời thịnh trị Thanh Triều bên Trung Hoa là Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long và Gia Khánh được gọi là “Khang Càn Thịnh Thế”. Theo Phong Thủy Học Ngũ Đế Tiền có công dụng như sau:

– Tăng gia Tài Vận
– Treo tại cửa để kháng sát hóa giải Hung Tinh. (Ngũ Hoàng, Nhị Hắc, Ngũ Quỷ Hướng)
– Hóa Giải Ngũ Quỷ (Theo Tuổi)
– Dùng bổ sung cho người có tổ hợp Bát Tự Kim yếu.
– Dùng để chôn táng cùng hài cốt để con cháu giảu có (Tử Tôn Tiền)
– Dùng để gieo quẻ Dịch.

Do đâu mà Ngũ Đế Tiền lại có được nhiều tác dụng như vậy ?! Có mấy điểm được các nhà Phong Thủy Học thống nhất như sau:

– Tiền đúc thời kỳ này có lượng Đồng cùng các kim loại phối hợp hợp chuẩn nhất, tinh khiết nhất và có kích thước tỷ lệ tốt nhất.

– Tiền do được lưu hành vào thời kỳ thịnh vượng được lưu chuyển qua nhiều người, nhiều vùng đất, nhiều thời gian nên hội đủ nhiều nhất tốt nhất các yếu tố Tam Tài Thiên Địa Nhân.

– Đồng Tiền được đúc với lỗ giữa hình Vuông tượng trưng cho Địa với sự biến hóa vô cùng vô tận, viền ngoài hình tròn biểu trung cho Thiên với các quy luật tuần hoàn xoay vòng và trên thân đồng tiền in Đế Hiệu các đời Hoàng Đế biểu trưng cho yếu tố Nhân với các Mỹ Từ đẹp đẽ Thuận Trị (Thuận lợi trị an), Khang Hy (Vui vẻ khỏa mạnh tốt đẹp), Ung Chính (Bồi đắp sự chính trực), Càn Long (Thịnh hưng của quẻ Càn gồm Nguyên, Hanh, Lợi Trinh), Gia Khánh (Tăng thêm sự tốt đẹp vui vẻ) …

3. Ngũ Đế Trị Ngũ Quỷ:
Ngũ Đế Tiền là biểu tượng của Càn Kim tức ứng với Thiên phương vị ở Tây Bắc, tượng trưng cho đầu mối của vạn vật là Khí thuần Dương cương cường. Mở đầu Kinh Dịch là Quẻ Càn với bốn tính Chất Nguyên Hanh Lợi Trinh. Ngũ Quỷ là Âm Khí chí âm, có sát tính mạnh, có sức phá hoại lớn.

Dùng tính chất Dương Cương Cường của quẻ Càn đối trị lại tính chất Âm Sát của Ngũ Quỷ chính là lấy Đạo Âm Dương tương hóa, lấy Đức lớn của Trời dung hóa Sát Tính của Quỷ, thu phục và chuyển hóa thành các yếu tố có lợi cho quần sinh.
Đó chính là Đạo Hóa Sinh của Thiên Đạo.

Cách làm:
– Chọn mua Ngũ Đế Tiền (Cổ thật thì tốt nhất) nếu loại phục chế thì chọn chất đồng tốt.
– Rửa sạch bằng nước, rượu.
– Bỏ vào một đĩa sứ sạch rồi tại trì 49 biến Đại Bi Chú … nói việc mình cần làm.
– Chọn ngày tốt đem sử dụng (Treo trên cửa, mang trong người)

st

Hồ Ly Tiên – Vật khí Phong Thủy

Trong truyền thuyết, Hồ Ly được coi là một loại vật cực kỳ thông minh, lém lỉnh. Trong đời sống hoang dã tự nhiên, về khả năng và phương pháp sinh tồn, chúng ta không thể phủ nhận đây là một sinh vật có khả năng thích ứng rất cao.

Có thể nói từ những bản năng của loại động vật này, chúng ta có thể rút ra nhiều triết lý sống bổ ích cho chính mình.

Theo một số Huyền Thuyết Thần Bí nói rằng Hồ Ly hiểu rõ và có khả năng Tu Luyện, chúng có sự kiên trì, đầu óc thông minh, tam hoa tụ đỉnh hấp thu nhật nguyệt tinh hoa, linh khí thiên địa, độ 500 năm thì có được thân người, tu thêm 500 năm nữa thì thành Tiên. Từ rất lâu, có một số vùng ở Trung Quốc sau này lan sang Nhật Bản, miếu thờ Hồ Tiên thờ hình tượng một Tiên Nữ cưỡi trên con Bạch Hồ Ly, thường gọi là Hồ Tiên Phái, có các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng khá phong phú. Ở Đài Loan miếu thờ Hồ Tiên rất ít thấy song có người nói vùng sơn khu Dương Minh chính là Đại Bản Doanh của Hồ Ly Tu Tiên.

Trong bộ tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa, khởi đầu cho cuộc chiến của hai vương triều Thương Chu cùng các vị Thần Tiên hai phái Xiển Giáo và Triệt Giáo cũng là từ một Hồ Ly Tinh tu luyện ở ngôi mộ của Hoàng Đế tuân lệnh Nữ Oa Nương Nương nhập xác vào Nàng Tô Đắc Kỷ để mê hoặc Trụ Vương nhà Thương. Sau này, trong các câu chuyện dân gian, các tác phẩm văn học Trung Hoa Bạch Hồ Ly, Cửu Vĩ Hồ Ly cũng thường được nhắc đến.

Trong lịch sử văn hóa từ lâu đời của Trung Hoa, có một số động vật được lấy làm hình ảnh, hình tượng để biểu trưng cho một triết lý nhân sinh nào đó hoặc để sử dụng trong Phong Thủy để cải biến vận trình, hóa giải sát khí, tăng cường cát khí … Hồ Ly là một trong số các động vật đó. Về chất liệu chế tạo Hồ Ly khá phong phú, song có nét đặc biệt là đại đa số được làm bằng kim loại quý, hoặc đá quý. Phổ biến nhất là Hồ Ly bằng Thạch Anh.
Chất liệu bằng Thạch Anh cũng có nhiều loại nhiều màu sắc, cùng với các tư thế khác nhau của Hồ Ly, cho chúng ta sự lựa chọn vào các công dụng khác nhau. Hồ Ly chế tác bằng Thạch Anh Trắng, Thạch Anh Hồng được đánh bóng lung linh, phản chiếu ánh sáng, khiến cho người dùng, ăn nói hấp dẫn, linh hoạt ứng biến, tính thích ứng cao, có thể ở trong hoàn cảnh nguy hiểm mà ung dung liễu thoát, như cá gặp nước vậy. Các ngành nghề như: hoạt động môi giới, tư vấn bất động sản, giới thiệu hôn nhân, giới thiệu việc làm, kinh doanh âm nhạc giải trí, các ngành nghề đặc chủng, có thể dùng một hình Hồ Ly bằng đá thạch anh hồng hoặc trắng đeo trên người, hoặc đặt một tượng Hồ Ly lớn hơn đặt tại chỗ ngồi, trên bàn làm việc, tủ đựng hồ sơ …

Có một vấn đề tế nhị là do danh tiếng của Hồ Ly không phải là tốt đẹp cho lắm. Nên khi sử dụng Hồ Ly ở bàn làm việc, hay mang trên người thì nên kín đáo, tránh để người khác nhìn thấy, cũng lại hợp với đặc tính ẩn núp của Hồ Ly. Bản thân người dùng nên chọn lúc nào có một mình, đem cầm Hồ Ly trong tay ngắm nhìn thưởng ngoạn, hấp thu năng lượng linh hoạt, thông minh của Hồ Ly. Như vậy có thể ở trong sự phức tạp của xã hội mà tìm được chỗ đứng, không gian riêng cho cuộc sống của mình.
Nam nữ tuổi trẻ, như muốn tăng cường Đào Hoa Nhân Duyên vận, chỉ cần sử dụng một đồ trang sức hoặc tượng Hồ Ly bằng thạch anh hồng là được. Nếu có được Hồ Ly bằng đá quý màu đen hoặc đỏ thì lực rất mạnh. Cần chú ý điều này khi sử dụng. Dùng đá Hắc Diệu Nham (Rainbow Obsidian) để chế thành hình tượng Hồ Ly, thì năng lực hấp thu Đào Hoa cực mạnh, đạt đến độ Trảm Đoạn Đào Hoa. Ngoài ra các loại đá như Thạch Anh Khói, Thiên Thạch Đen, Tu – Ma – Nin … đều sử dụng tốt.
Đối với các quý bà có chồng khẳng định là có “Phòng Nhì” ở bên ngoài, có thể sử dụng một Hắc Hồ Ly bằng đá quý đặt tại cạnh giường ngủ, hoặc bàn làm việc, xe hoi của chồng hoặc chỗ nào người chồng thường sử dụng. Hắc Hồ Ly sẽ từ từ thu hút Đào Hoa Khí của người chồng, khiến cho các mối quan hệ bên ngoài được điều chỉnh ở vào mức độ thích hợp. Đây cũng là điều lưu ý với các bận trẻ khi sử dụng Hồ Ly để tăng cương Đào Hoa Vận – Tuyệt đối không bày Hắc Hồ Ly tại chỗ giường mình nằm ngủ

st

Chiếc gương trong phong thủy

Theo Lý Thời Trân, nhà Y Dược học đời nhà Minh thì Gương ngày xưa gọi là Giám, là vật để soi. Xưa, Gương làm bằng Đồng, nhờ kỹ thuật đúc Đồng của người xưa đã đạt đến mức tuyệt kỷ.

Kỹ thuật tráng Bạc trên mặt phẳng thủy tinh, bằng cách xử dụng Nitrat bạc tác dụng với Muối kép trong môi trường xúc tác của Amoniac thì phải chờ đến cuối Minh đầu Thanh mới rộ.

Thời Kỳ đầu, theo sách vở để lại, các thầy Lang dùng Gương đồng là để trị bệnh tà ma, nhiễm khí. Những tấm Gương bằng đồng cổ xưa còn lưu lại, đều có khắc chạm những đường cong Phù chú ngoằn nghèo, có tác dụng để chữa bệnh hơn là dùng cho Thuật Phong Thủy. May ra những tấm gương đằng trước ngực áo giáp của các Tướng Sĩ đời xưa thì có thể gọi là Gương Phong Thủy.

Gương này được gọi là Gương Hộ tâm – Tâm đây là Tim – Không rõ những áo giáp có gương Hộ Tâm, khả năng làm cho địch quân khiếp vía vỡ Tim, hay là làm cho người mặc vững Tim mà chiến đấu không thì chưa rõ, nhưng chắc chắn chung quanh các chiếc gương Hộ Tâm cũng có những đường ngoằn nghèo của các loại Hoa Văn Phù Chú. Những Hoa Văn Phù Chú này, hệt như đường vẽ thực tế của núi sông, chắc chắn phải có một công năng khí cảm nào đó.
Hạt nhân của Khoa Phong Thủy là Khí. Căn bản của Khoa Phong Thủy là lấy sự hài hòa làm trọng. Âm đến thì dùng Dương mà hóa khí. Dương đến thì tìm Âm mà thành hình. Âm thì phải có Dương.

Dương thì phải có Âm. Đủ Âm, đủ Dương thì vạn vật mới sinh thành, cho nên các nhà Phong Thủy rất coi trọng luật tham sinh kỵ khắc của tạo hóa. Đất đai, nhà cửa cũng như con người chỉ thích đi sinh chứ không thích đi khắc. Danh Y Hải Thượng Lản Ông để lại cho đời tập Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh cũng dạy nên Bổ chứ không nên Tả. Bổ Tim, Bổ Phổi, Bổ Thận…… kẹt lắm mới thấy thầy dạy Tả.

Hình thức Tả nhanh gọn trong y khoa, là đưa ngay vào phòng mỗ mà cắt xén cái cụp, thì cũng y như khoa Phong Thủy dùng Gương để mà tán, là vì gương có tính phản quang, khả năng phân tán được những Khí xấu. Nhưng nếu Gương mà tán được Khí Xấu, thì xem chừng Gương cũng lại có khả năng phân tán được những Khí Tốt. Mặt khác, Gương chỉ có thể để tán, chứ Gương không đủ khả năng để hóa giãi. Căn bản của hóa giãi là dựa vào vòng tương sinh của Ngũ hành là Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim – Kim sinh Thủy.

Mức độ hóa giãi lại tùy thuộc vào trình độ và kinh nghiệm tay nghề, nghĩa là phải cần Tinh lẫn Chuyên. Tán thì dễ mà Hóa Giãi thì khó. Cần phải cẩn trọng, phải phân tích được thua trước khi chọn giãi pháp dụng Gương. Là vì, dùng Gương thì cũng y hệt như dùng dao hai lưỡi vậy.
Từ lâu, các chuyên gia trang trí nội thất đã biết là cần phải phối hợp với thuật Phong Thủy để sao cho kỷ thuật trang trí vừa đẹp mắt, vừa đem lại tốt lành cho gia chủ. Những năm gần đây, khoa Phong Thủy bỗng rộ lên tại các nước phương Tây. Một số nhà viết sách bén nhạy với thị trường, kịp thời tung sách dạy người trang trí nội thất theo quan niệm phong thủy.

Lại cũng có một số tác giả viết sách dạy Phong Thủy theo quan niệm của kỹ thuật trang trí nội thất. Tác giả nào cũng có cố gắng hướng dẫn và giải thích rõ cho độc giả, cho nên sách nào cũng thừa hấp dẫn và có tính thuyết phục rất cao. Người đọc, chắc hẳn, rồi một ngày nào đó, sẽ dần dần đi vào mê cung, không còn phân biệt được sách nào là sách dạy Phong Thủy, sách nào là sách dạy người trang trí?

Để giải thích tại sao người đời thường hay dùng Gương phản chiếu lại những cái đòn Dông, hay con đường đâm thẳng vào nhà, tất cả các tác giả đều cùng quan điểm là vì Gương có tính phản quang, khả năng đẩy ngược lại những Âm Khí đang hướng vào nhà, lâu ngày sẽ gây nên tai họa. Nhưng, cũng cùng tác giả lại lật ngược cho rằng nên dùng Gương để nhằm thu hút các hình ảnh bên ngoài tạo cảm giác chiều sâu, hoặc treo gương để tạo ảo giác về khoảng không gian mở rộng.
Có tác giả lại giải thích nên treo gương chung quanh phòng khách để vừa làm cho phòng rộng thêm ra, và làm tăng gấp đôi bàn ghế bày biện trong phòng. Lại cũng có tác giả đề nghị dùng gương treo trên vách bên cạnh hay đằng sau quầy tính tiền để quầy tiền được tăng gấp đôi tại các cơ sở thương mãi.

Khi bị Âm Khí đang chĩa thẳng vào thì dùng Gương mà tán ra, nhưng khi kề cạnh quầy tiền thì dùng gương để thu hút hình ảnh, làm tăng gấp đôi lợi nhuận. Loại Gương có thể tự điều chỉnh gặp Tiền thì Thu vào, gặp hiểm họa thì Tán ra thì đích thị phải là: Gương Thần. Hèn chi người đời xưa đã sớm biết dùng Gương để chữa bệnh tà ma quỷ yếm?

May mà khoa học càng ngày càng phát triển, có thể giải thích được tại sao những mũi nhọn của đòn Dông lâu ngày gây ra hiểm họa, nhờ vào các khảo sát Làn Sóng Ánh Sáng hay hiện tượng Sóng Vi Ba trong Vũ Trụ. Vả lại, tính phản quang của Gương là tính Thật trăm phần trăm, những hình ảnh xuất hiện sau Gương chỉ là ảnh Ảo hay chỉ là ảnh Giả mà thôi.
Tính phản quang của Gương là Thật. Ảnh xuất hiện trong gương là Giả. Bên thiệt, bên giả, đen trắng rõ ràng, phân biệt được đúng sai, để khi dùng Gương mục đích trang trí nội thất, để soi mặt hay dùng Gương cho Phong Thủy thì phải cẩn thận. Là vì, ngoài mặt giả của ảnh ảo, Gương còn mặt thật là phản chiếu và khả năng đưa rọi ánh Sáng.

Dương là ánh sáng, Âm là bóng tối thì Gương phải đặt tại nơi Dương mới có thể đưa rọi ánh sáng sang được những chổ tối. Ngược lại nếu Gương được đặt ngay tại những nơi Âm hoặc những nơi tối tăm thì hoàn toàn vô ích. Trước khi đặt để Gương, cho dù để trang trí hay để soi rọi, thì trước tiên gia chủ phải biết trong nhà, chổ nào Dương, chổ nào thì Âm, chổ nào Tốt và chổ nào thì Xấu.

Gương nhất định phải được đặt tại các chổ TỐT trong nhà, là vì Gương có khả năng phân tán cái Tốt rộng ra. Như vậy, treo gương ở phòng khách để làm rộng phòng khách thêm ra, là theo quan niệm của Trang Trí Nội Thất, chứ không phải của khoa Phong Thủy. Khoa Phong thủy chỉ đề nghị treo gương tại Phòng Khách nếu phòng khách đang tại vị trí Tốt trong nhà, nghĩa là đang tại Kiết Du Niên.

Hay hoặc khoa Phong Thủy sẽ đề nghị đặt Gương sau quầy tính tiền, không phải để nhân đôi quầy tính tiền, mà vì chổ đặt quầy tính tiền thường đã được các nhà Phong Thủy cho đặt tại những Kiết Du Niên hay gọi là những chổ Tốt.

Cách đơn giản nhất là dùng la bàn đặt tại tâm của căn phòng hay căn nhà đang ở để định hướng của Cửa phòng hay Cửa nhà. Nếu Cửa của phòng hay Cửa của nhà nằm trong 4 hướng: Chính Đông, Đông Nam, Chính Bắc và Chính Nam thì 4 khu vực này là 4 khu vực Tốt.

Khoa Phong Thủy gọi là 4 kiết du niên tại Đông, Đông Nam, Bắc và Nam. Trái lại, nếu Cửa của phòng hay của nhà nằm trong 4 hướng: Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc thì 4 khu vực này mới là 4 khu vực Tốt của căn phòng, hay của nhà. Khoa Phong Thủy gọi 4 Kiết du niên là tại Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc.

Các nhà Phong Thủy đã căn cứ vào Hà Đồ và Lạc Thư của Dịch Lý, phối hợp với Ngũ Hành sinh khắc để giải thích: Phương Bắc hành Thủy. Phương Đông và Đông Nam hành Mộc, Phương Nam hành Hỏa. 4 phương này tương sinh là vì Thủy sinh Mộc và Mộc sinh Hỏa cho nên cùng là Kiết Du niên, nghĩa là 4 Khu vực này là 4 khu vực Tốt. Ngược lại, Phương Tây, Tây Bắc hành Kim và hai Phương Đông Bắc, Tây Nam hành Thổ. Ngũ hành thì Thổ sinh Kim, cho nên 4 phương Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc cùng Kiết Du niên hay gọi là 4 khu vực Tốt là vì vậy.
Bây giờ mời quý vị đọc lại đoạn đầu để nhớ lại những lời của các tổ sư Phong Thủy dạy về Hình và Khí, về Dương và Âm, về Tiểu nhân và Quân Tử. Nhớ cách đơn giản nhất là dùng La Bàn để đo phương hướng. Trước hết, phải căn cứ từ hướng của Cửa phòng hay Cửa nhà mà định vị các kiết du niên, phân biệt Âm Dương, Hình Khí rồi mới dùng Gương phối hợp với mỹ quang của Khoa Trang Trí Nội Thất mà Tán hay để Soi, để Rọi. Nhưng, cách ngắn gọn và chính xác nhất là mời Quý vị tự phân tích, nhận xét lại hoàn cảnh và tình trạng kinh tế gia đình hiện nay:
– Gia đình, vợ chồng đang hạnh phúc, tiền bạc đang vào, con cái học hành càng ngày càng tấn tới, sức khỏe cả nhà đều được Tốt, thì quý vị hãy an tâm: Các tấm Gương treo trong nhà đã đặt đúng tại các Kiết Du niên, nghĩa là đã đúng tại các nơi đầy tràn khí Dương hay là đang tại những vị trí tốt lành.
– Ngược lại, gia đình mà vợ chồng xào xáo, con cái thích chơi hơn học, tiền bạc thâm thủng thiếu thốn, bệnh tật triền miên…… thì xem chừng quý vị đã đặt Gương ở những chổ trật lất, sai!
Những tấm Gương biết là đã đặt tại những chổ Sai, trật lất, thì xin Quý vị hảy tìm chổ khác mà dời ngay tức thời.

(ST)

Thanh long – chu tước – bạch hổ – huyền vũ

Tứ tượng hay tứ thánh thú, là một khái niệm hình tượng bộ bốn trong khoa học thiên văn, triết học, phong thủy,… phương Đông.

Tứ tượng (Si Xiang) là bốn thánh thú trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại:
* Thanh Long của phương Đông
* Chu Tước của phương Nam
* Bạch Hổ của phương Tây
* Huyền Vũ của phương Bắc
Mỗi thánh thú cai quản một phương và tượng trưng cho một mùa, chúng có những đặc điểm và nguồn gốc riêng. Chúng được miêu tả đầy sinh động trong thần thoại và trí tưởng tượng của người Trung Hoa, và cả trong Manga và Anime của Nhật.
Tứ tượng được đặt cho những cái tên loài người tương ứng khi Đạo giáo trở nên phổ biến. Thanh long có tên là Mang Zhang (Mạnh Chương), Chu tước là Ling Guang (Lăng Quang), Bạch hổ là Jian Bing (Giám Binh), và Huyền vũ là Zhi Ming (Chấp Minh)
1. Huyền Vũ (Thuỷ)
Hình dạng khởi thủy của Huyền Vũ là con “vũ” màu đen, với Vũ là một linh vật kết hợp của rắn và rùa. Đây là linh vật rất cổ của Trung Hoa. Trong truyền thuyết về tổ của người Trung Quốc, Phục Hi là Tổ phụ, Nữ Oa là Tổ mẫu, thì Phục Hi có hình rắn, Nữ Oa có hình rùa. Sự kết hợp giữa rắn và rùa cho thấy một totem cổ đại từ xa xưa, tượng trưng cho sự Trường Tồn và Sức Mạnh.
Huyền Vũ (玄武) là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dương, triết học.
“Chòm Huyền Vũ (rùa và rắn đen) gồm: Đẩu (cua), Ngưu (trâu), Nữ (dơi), Hư (chuột), Nguy (én), Thất (heo) và Bích (nhím)”
Hình tượng Huyền Vũ có liên quan mật thiết đến một vị thần có vị trí rất cao trong Đạo giáo là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế, ông còn các danh xưng khác: Thượng đế tổ sư, Đãng ma thiên tôn, Hỗn nguyên giáo chủ, Bắc cực huyền linh đại đế. Ông có 2 con vật thiêng là Linh Quy và Thần Xà, tượng trưng cho sự trường tồn và trí tuệ. Vì vậy chữ “Vũ” trong “Huyền Vũ” ở đây với nghĩa là “sức mạnh” gồm cả rùa và rắn (tiếng Anh dịch là Warrior).


2. Bạch Hổ (Phong)
Bạch Hổ là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con hổ (虎), có màu trắng (bạch, 白) là màu của hành Kim ở phương Tây, do đó tương ứng với mùa thu.
Bạch Hổ cũng là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dương, triết học.
“Chòm Bạch Hổ (cọp trắng)gồm: Khuê (sói), Lâu (chó), Vị (trĩ), Mão (gà), Tất (quạ), Chủy (khỉ) và Sâm (vượn)”
3. Thanh Long (Lôi)
Thanh Long (青龍) hay Thương Long là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, âm dương, triết học.
Trong thiên văn, Thanh Long chỉ cung gồm 7 chòm sao phương đông trong Nhị thập bát tú, đó là:
* Giác Mộc Giảo (sao Giác)
* Cang Kim Long (sao Cang)
* Đê Thổ Lạc (sao Đê)
* Phòng Nhật Thố (sao Phòng)
* Tâm Nguyệt Hồ (sao Tâm)
* Vĩ Hỏa Hổ (sao Vĩ)
* Cơ Thủy Báo (sao Cơ)
Trong đó Giác là hai sừng của rồng, Cang là cổ của rồng, Đê là chân trước của rồng, Phòng là bụng của rồng, Tâm là tim của rồng, Vĩ là đuôi của rồng, Cơ là phân của rồng. Bảy chòm sao này xuất hiện giữa trời tương ứng với mùa xuân.
Hai sao Phòng và Tâm là gần nhau nhất trong cung Thanh Long, có nhiều đặc điểm tương đồng về độ sáng, cấu tạo, chu kỳ, … nên thời được ví như hai chị em sinh đôi.
Thanh Long là linh vật thiêng liêng bậc nhất trong Tứ tượng( thần thú), thời cổ đại gọi là Thương Long, có tượng là hình rồng (long, 龍), có màu xanh (thanh, 青) màu của hành Mộc ở phương Đông, do đó tương ứng với mùa xuân
4. Chu tước (Hỏa)
Chu Tước (朱雀) là một trong Tứ tượng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dương, triết học Phương Đông.
Trong thiên văn, Chu Tước chỉ cung gồm 7 chòm sao phương nam trong Nhị thập bát tú, đó là:
* Tỉnh Mộc Hãn (sao Tỉnh)
* Quỷ Kim Dương (sao Quỷ)
* Liễu Thổ Chương (sao Liễu)
* Tinh Nhật Mã (sao Tinh)
* Trương Nguyệt Lộc (sao Trương)
* Dực Hỏa Xà (sao Dực)
* Chẩn Thủy Dẫn (sao Chẩn)
Trong đó Tỉnh tượng hình mỏ chim, Quỷ tượng hình mào chim, Liễu tượng hình diều chim, Tinh tượng hình cổ chim, Trương tượng hình bụng chim, Dực tượng hình cánh chim, Chẩn tượng hình đuôi chim.
3 sao Liễu, Tinh, Trương có vị trí gần nhau nhất trong cung Chu Tước thường xuất hiện cùng lúc trên bầu trời tạo thành một đường thẳng.
Chu Tước thời cổ còn gọi là Chu Điểu (朱鳥, con chim màu đỏ) là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con chim sẻ (tước 雀), có màu đỏ (chu, 朱) là màu của hành Hỏa ở phương Nam, do đó tương ứng với mùa hạ.
(st)

Đá quý trong tinh yêu – hôn nhân – công việc

Những đá quý là trợ thủ đắc lực trong tình yêu , hôn nhân và công việc của bạn. cùng tham khảo thêm những thông tin hữu ích này nhé !!

 

TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN

1. Cầu mong gặp tình yêu , duyên phận : rose quazt (thạch anh hồng ), moonstone ( đá có màu trắng hay hồng giống thạch anh nhưng trong hơn ) , opal ( ngọc mắt mèo ), rhodonite ( đá có màu nâu đỏ vân đen ),tourmaline , coral

2. Cầu mong cải thiện mối quan hệ : aquamarine, ngọc lục bảo , amber (hổ phách )

3. Ước muốn hình ảnh mình đẹp hơn dưới mắt người ấy : sapphire , pearl ( ngọc trai )

4. Ước nguyện mau khỏi vết thương lòng : rose quazt (thạch anh hồng ), amethyst (thạch anh tím ), emerald, turquoise ( ngọc lam )

5. Ước mong quan hệ đừng có ghen tuông : amethyst (thạch anh tím )

6. Ước mong người ấy đừng lãng tử : emerald, onyx, peridot

7. Ước mong hình ảnh mình quyến rũ hơn dưới mắt người ấy : garnet , carnelian, hematite , rutilated quartz

8. Ước mong đừng có xa mặt cách lòng : garnet, moonstone

9. Ước mong người ấy mở lòng với mình : malachite

10. Ước mong tình cảm được xác định rõ ràng : diamond ( kim cương ) , moldavite

11. Ước mong dứt khoát được một tình cảm : onyx, desert rose

12. Ước mong cho tình cảm hiện có phát triển lên : bloodstone

13. Ước nguyện sẽ có hôn nhân hạnh phúc : aquamarine , emerald

14. Ước mong người ấy sẽ hiểu lòng mình : aquamarine, chrysocolla , turquoise, lapis lazuli

 

CÔNG VIỆC

1. Cầu mong công việc đi lên : crystal quartz , citirine quartz, tiger’s eyes , tourmaline , rutile quartz

2. Cầu mong thành công : turquoise, crystal quartz , jade

3. Cầu mong phát triển bán hàng , kế hoạch , ý tưởng sáng tạo , năng động trong công việc : azurite, lapis lazuli, sapphire , pyrite

4. Cầu mong đàm phán , kinh doanh thành công : jade , tourmaline , malachite , lapis lazuli, ruby

5. Cầu mong phát triển văn phòng đại diện : aquamarine, azurite, amozonite , chrysocolla , turquoise

6. Cầu mong phát triển một lĩnh vực kinh doanh mới : aventurine quartz, crystal quartz , tiger’s eyes

7. Cầu mong buôn bán phát đạt : jade, tourmaline , crystal quartz , tiger’s eyes

8. Cầu mong kế hoạch dự trù của mình thành hiện thực : amazonite , crystal quartz , jade, tourmaline

9. Cầu mong đổi việc : opal

10. Cầu mong việc kinh doanh phát triển lĩnh vực computer , điện tử : chrysocolla

11. Cầu mong công việc , kế hoạch được chính xác : calcite

12. Cầu mong luận văn , công việc nghiên cứu thành công : lapis lazuli

13. Cầu mong việc đầu tư tốt : rutile quartz, tiger’s eyes , citirine quartz, tourmaline